Tây Hồ: Không gian du lịch tâm linh đặc biệt cần được bảo tồn trong phát triển đô thị hiện đại
Xung quanh Hồ Tây, quần thể các công trình kiến trúc truyền thống gắn liền với mặt nước không chỉ là những dấu tích lịch sử đơn lẻ, mà hợp thành một không gian di sản văn hóa đặc sắc của Hà Nội. Đình, chùa, đền, phủ, làng cổ ven hồ được hình thành và tồn tại trong mối quan hệ trực tiếp với mặt nước, nơi hồ vừa là yếu tố phong thủy, vừa là không gian sinh hoạt, lễ nghi và đời sống tinh thần của cộng đồng. Tây Hồ vì thế không chỉ là thắng cảnh thiên nhiên, mà còn là một chỉnh thể văn hóa - lịch sử - tâm linh hiếm có trong cấu trúc đô thị Việt Nam.
![]() |
| Xung quanh Hồ Tây, quần thể các công trình kiến trúc truyền thống gắn liền với mặt nước không chỉ là những dấu tích lịch sử đơn lẻ, mà hợp thành một không gian di sản văn hóa đặc sắc của Hà Nội. Đình, chùa, đền, phủ, làng cổ ven hồ được hình thành và tồn tại trong mối quan hệ trực tiếp với mặt nước, nơi hồ vừa là yếu tố phong thủy, vừa là không gian sinh hoạt, lễ nghi và đời sống tinh thần của cộng đồng. - (Ảnh: Phạm Hùng) |
Trong ký ức và tâm thức người Hà Nội, Tây Hồ luôn gắn với những giá trị văn hóa đặc biệt, được xem là vùng đất “Rồng thiêng hội tụ”, mang thế đất “long phượng trình tường, phượng hoàng ẩm thủy”. Trải qua hàng nghìn năm bồi đắp, nơi đây hình thành một vùng trầm tích văn hóa phong phú với 71 di tích, trong đó có 40 di tích đã được xếp hạng. Hệ thống di tích bao quanh hồ lưu giữ nhiều văn vật quý giá như bia đá, hoành phi, câu đối, chuông cổ, sắc phong và hàng trăm pho tượng cổ bằng đồng, gỗ, đá, phản ánh chiều sâu lịch sử của kinh thành Thăng Long.
Hồ Tây là hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất trong nội đô Hà Nội, được hình thành từ quá trình tách dòng của sông Hồng. Sách “Tây Hồ chí” ghi nhận hồ đã tồn tại từ thời kỳ Hùng Vương với tên gọi bến Lâm Ấp, gắn với vùng Long Đỗ cổ xưa. Trải qua các triều đại, hồ từng mang nhiều tên gọi như Đầm Xác Cáo, Kim Ngưu, Lãng Bạc hay Dâm Đàm, mỗi tên gọi đều gắn với những huyền tích dân gian phản ánh mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên và tâm linh.
![]() |
| Xung quanh Hồ Tây, Đình, chùa, đền, phủ, làng cổ ven hồ được hình thành và tồn tại trong mối quan hệ trực tiếp với mặt nước, nơi hồ vừa là yếu tố phong thủy, vừa là không gian sinh hoạt, lễ nghi và đời sống tinh thần của cộng đồng. - (Ảnh: Phạm Hùng) |
Từ vùng rừng rậm, đầm lầy hoang hóa, qua công lao khai khẩn của nhiều thế hệ cư dân và các vương triều, Hồ Tây đã trở thành thắng cảnh nổi tiếng của Thăng Long. Các làng nghề, thôn ấp ven hồ mang dấu ấn của các công chúa, vương phi triều Lý, Trần, Lê đã góp phần hình thành hệ thống làng nghề đặc sắc như trồng hoa đào Nhật Tân, quất cảnh Tứ Liên, giấy dó Yên Thái, trồng sen và ướp trà sen Quảng An, xôi Phú Thượng… Hồ Tây vì thế được ví như nhụy hoa của 13 làng nghề Thập Tam Trại phía Tây thành Thăng Long.
Từ thời Lý - Trần, khu vực Hồ Tây đã trở thành không gian nghỉ dưỡng của hoàng gia với nhiều cung điện được xây dựng ven hồ như cung Thúy Hoa, điện Hàm Nguyên, cung Từ Hoa, điện Thụy Chương. Dấu tích của các công trình này hiện vẫn còn in dấu trong hệ thống chùa, đình, đền cổ như chùa Trấn Quốc, chùa Kim Liên, khu trường Chu Văn An. Mỗi làng cổ quanh hồ đều gắn với những truyền thuyết riêng, tạo nên một bản đồ văn hóa dày đặc và độc đáo.
Quần thể di sản ven Hồ Tây không tồn tại riêng lẻ mà gắn kết hữu cơ giữa kiến trúc, cây xanh và cảnh quan mặt nước. Chính sự hòa quyện ấy tạo nên nhịp sống thong thả, trầm mặc, trở thành giá trị cốt lõi làm nên bản sắc Tây Hồ. Bất kỳ sự can thiệp đô thị nào làm đứt gãy mối liên hệ này đều có nguy cơ biến những di tích sống động thành những hiện vật bị cô lập giữa dòng chảy đô thị hiện đại.
Trong bối cảnh phát triển Thủ đô, Hồ Tây được xác định là không gian chiến lược. Quyết định số 315/QĐ-UBND ngày 22/01/2026 của UBND thành phố Hà Nội phê duyệt Đề án “Bảo tồn và phát huy giá trị khu vực Hồ Tây và phụ cận” đã xác lập rõ quan điểm phát triển hài hòa giữa bảo tồn và khai thác. Theo định hướng này, Hồ Tây sẽ trở thành trung tâm văn hóa, du lịch và kinh tế sáng tạo bền vững của Thủ đô, đồng thời là động lực thúc đẩy liên kết vùng và nâng cao hình ảnh Hà Nội trên bản đồ quốc tế.
![]() |
| Dự án xây dựng tuyến đường Đặng Thai Mai - giai đoạn I (phường Tây Hồ, TP Hà Nội) được khởi công ngày 15/1/2025. Tuyến đường này nằm trong khu vực ven Hồ Tây, kết nối khu biệt thự Tây Hồ với đường Xuân Diệu. |
Ngày 27/01/2026, HĐND thành phố Hà Nội đã thông qua Nghị quyết thống nhất sơ bộ chủ trương đầu tư dự án cải tạo phát huy giá trị khu vực Hồ Tây và tuyến đường giao thông cảnh quan ven hồ theo phương thức đối tác công tư PPP, loại hợp đồng BT. Dự án có quy mô khoảng 575,6 ha, trong đó diện tích mặt nước hồ giữ nguyên 520,9 ha, thể hiện quan điểm bảo vệ cấu trúc tự nhiên vốn có của hồ.
Tuyến đường ven hồ dự kiến điều chỉnh mở rộng với tổng chiều dài hơn 11,5 km, tập trung tại các tuyến Nhật Chiêu, Vệ Hồ, Trích Sài, Nguyễn Đình Thi, Quảng An, Quảng Bá. Quy hoạch mặt cắt đường từ 8,5 - 9,5 m lên 21 - 24 m nhằm đáp ứng nhu cầu giao thông và cảnh quan đô thị. Tuy nhiên, áp lực giao thông ngày càng lớn quanh Hồ Tây đặt ra bài toán nhạy cảm: làm sao cải thiện kết nối mà không phá vỡ không gian mặt nước - yếu tố cốt lõi của di sản cảnh quan.
![]() |
| Tuyến đường Đặng Thai Mai (phường Tây Hồ, TP Hà Nội) - khu vực chưa giải phóng mặt bằng, theo một số ý kiến người dân giai đoạn 2 còn hơn 180 hộ gia đình chưa thống nhất đền bù. Tuyến đường kết nối từ đường Xuân Diệu ra đường Quảng An ven hồ.- (Ảnh: Phạm Hùng) |
Từ góc nhìn quy hoạch, việc mở rộng giao thông cơ giới sát mặt nước tiềm ẩn nhiều rủi ro. Theo nguyên lý quy hoạch đô thị, các trục giao thông cơ giới lớn không nên áp sát không gian cây xanh và mặt nước vì dễ gây chia cắt cảnh quan, ô nhiễm tiếng ồn, rối loạn thị giác và suy giảm chức năng sinh thái. Hồ Tây là không gian điều hòa vi khí hậu và tâm lý đô thị, thu hút cư dân tìm kiếm sự yên tĩnh và chất lượng sống. Nếu biến khu vực này thành tuyến giao thông mật độ cao, giá trị cảnh quan và môi trường sẽ bị suy giảm nghiêm trọng.
Một trong những phương án được đặt ra là xây dựng cầu cạn bê tông để mở rộng giao thông ven hồ. Tuy nhiên, giải pháp này tiềm ẩn nhiều hệ lụy môi trường. Cầu cạn sẽ làm mất khả năng hình thành bờ mềm tự nhiên giữa đất và nước, yếu tố quan trọng giúp điều hòa vi khí hậu, lọc nước và duy trì đa dạng sinh học. Không gian dưới cầu thường tối, ẩm, khó khai thác sử dụng, dễ xuống cấp và làm đứt gãy mối liên hệ tự nhiên giữa đất - nước - thảm thực vật.
Ngoài ra, kết cấu bê tông hấp thụ nhiệt mạnh, làm gia tăng hiệu ứng đảo nhiệt đô thị, đặc biệt trong điều kiện mùa hè Hà Nội. Không gian ven hồ có nguy cơ trở thành dải giao thông nóng, ồn, kém thân thiện với người đi bộ và hoạt động cộng đồng. Về lâu dài, đây là giải pháp không phù hợp với vai trò của Hồ Tây như một công viên sinh thái tự nhiên trong lòng đô thị.
Thực tế môi trường Hà Nội cho thấy khu vực Hồ Tây đã xuất hiện mật độ bụi mịn cao, phản ánh sức ép từ quá trình đô thị hóa. Khi các giá trị sinh thái và văn hóa bị mất cân bằng, lợi thế cảnh quan sẽ suy giảm, kéo theo sự giảm giá trị bất động sản và chất lượng sống. Hồ Tây không chỉ là tài sản môi trường mà còn là tài sản văn hóa và kinh tế dài hạn của Thủ đô.
Từ góc độ di sản, Hồ Tây là nơi hội tụ nhiều công trình tâm linh quan trọng như Phủ Tây Hồ, đền Quán Thánh, chùa Trấn Quốc, chùa Kim Liên, đền Đồng Cổ… Phủ Tây Hồ thờ Liễu Hạnh Công chúa, một trong Tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam, thu hút đông đảo du khách thập phương. Đền Quán Thánh một trong “Thăng Long tứ trấn” lưu giữ pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ bằng đồng đen có giá trị nghệ thuật đặc biệt.
Hệ thống đình làng ven hồ không chỉ là nơi thờ Thành hoàng mà còn là trung tâm văn hóa cộng đồng, nơi diễn ra lễ hội, sinh hoạt văn hóa dân gian. Đình, đền, chùa vì thế vừa là thiết chế tín ngưỡng, vừa là không gian văn hóa - xã hội của cư dân làng Việt. Sự tồn tại của các công trình này gắn liền với không gian mặt nước, tạo nên cấu trúc văn hóa đặc trưng.
Trong lịch sử phát triển đô thị Hà Nội, Hồ Tây luôn được coi là đại công viên sinh thái tự nhiên. Theo lý thuyết kiến trúc cảnh quan, cây xanh và mặt nước là hai thành tố không thể tách rời làm nên giá trị của không gian xanh đô thị. Tuy nhiên, quá trình phát triển đô thị từ những năm 1990 đã khiến nhiều mảng xanh ven hồ bị thu hẹp, nhường chỗ cho nhà ở, biệt thự và dịch vụ thương mại.
Con đường ven Hồ Tây ban đầu được xây dựng nhằm chống lấn chiếm mặt nước, song theo thời gian đã trở thành tuyến giao thông hỗn hợp, làm giảm khả năng tiếp cận hồ của cộng đồng. Thay vì đóng vai trò tuyến dạo bộ và trải nghiệm cảnh quan, nhiều đoạn đường ven hồ trở thành phố thương mại với mật độ dịch vụ dày đặc, kéo theo áp lực giao thông và ô nhiễm môi trường.
![]() |
| Người dân dạo bộ và trải nghiệm cảnh quan, nhiều đoạn đường ven Hồ Tây |
Nhìn vào kinh nghiệm quốc tế, nhiều thành phố đã thành công trong việc bảo tồn cảnh quan mặt nước bằng cách ưu tiên giao thông phi cơ giới, phát triển không gian đi bộ và xe đạp, kết hợp công viên sinh thái. Đối với Hồ Tây, việc xây dựng quy hoạch tổng thể phân vùng bảo tồn không gian cây xanh - mặt nước, kết hợp tổ chức lại giao thông cơ giới theo các tuyến vành đai ngoài hồ là hướng đi cần được nghiên cứu.
Theo định hướng quy hoạch, giao thông cơ giới có thể được tổ chức lại trên các tuyến Thụy Khuê, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Nghi Tàm, Thanh Niên, giảm áp lực trực tiếp lên không gian ven hồ. Song song với đó, tuyến đường ven hồ có thể được phát triển thành không gian đi bộ và xe đạp dài nhất Hà Nội, tạo điều kiện phát triển du lịch sinh thái và văn hóa.
Quy hoạch tổng thể cũng cần hướng tới mở rộng các trục liên kết không gian văn hóa – sinh thái như Hồ Tây - sông Hồng, Hồ Tây - Cổ Loa, Nhật Tân - Nội Bài, hình thành mạng lưới không gian xanh liên hoàn. Việc khống chế mật độ xây dựng, tăng diện tích cây xanh và bảo vệ mặt nước sẽ góp phần phục hồi hệ sinh thái đô thị.
Tây Hồ không chỉ là di sản thiên nhiên mà còn là không gian ký ức và bản sắc của Hà Nội. Mặt nước hồ với những làn sóng lăn tăn hay dữ dội theo mùa, hương sen Quảng Bá, sắc đào Nhật Tân, nhài Yên Thái… tạo nên bức tranh văn hóa đặc trưng. Đây là nơi người Hà Nội tìm về để cảm nhận khoảng lặng giữa nhịp sống đô thị hiện đại.
Nhìn lại chặng đường phát triển không gian Hồ Tây trong hơn 70 năm qua, có thể thấy nhiều bài học về quy hoạch và bảo tồn. Tuy nhiên, những cơ hội vẫn còn nếu có chiến lược phát triển bền vững, đặt giá trị di sản làm trung tâm. Hồ Tây không phải quỹ đất dự trữ cho bê tông, càng không phải nơi thử nghiệm những giải pháp thiếu chiều sâu quy hoạch.
Trước khi triển khai các dự án hạ tầng lớn, cần có đánh giá toàn diện tác động đến hệ sinh thái, cảnh quan và đời sống cộng đồng. Phát triển Hồ Tây phải dựa trên nguyên tắc bảo tồn giá trị thiên nhiên – văn hóa, đồng thời đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị hiện đại.
Hồ Tây đã, đang và sẽ luôn là một biểu tượng văn hóa cảnh quan của Hà Nội. Việc ứng xử với không gian này không chỉ là câu chuyện quy hoạch mà còn là thước đo trách nhiệm của thế hệ hôm nay đối với di sản ngàn năm Thăng Long. Giữ gìn Hồ Tây chính là giữ gìn bản sắc và chất lượng sống của Thủ đô trong tương lai.
| Văn bia chùa Thiên Niên phường Bưởi Khu vực Hồ Tây, trước kia là khu rừng rậm mọc toàn gỗ lim. Trong rừng có hòn núi nhỏ, có con cáo chín đuôi đã thành tinh ẩn náu trong hang núi đó, thường thường hiện hình làm hại người và vật, đã lâu ngày không trừ được. Vua Lý Nam Đế (544-548) lấy làm lo, sai hai công chúa đi học pháp thuật để trừ hại cho dân. Hai công chúa tu luyện ba năm, kết quả chưa thành, con cáo yêu quái càng quấy nhiễu dữ. Hai công chúa xin sang phương Bắc học đạo. Thuyền đi đến sông Nguyệt Đức, buổi chiều gặp một vị Đại tiên. Vị này nói: "Ta nghe hai công chúa có chí trừ yêu quái mà con hồ tinh lọt lưới ẩn nấp chưa trừ được. Vậy ta đến giúp để cứu dân." Hai công chúa mừng lắm, đón vị Đại tiên về và vào tâu với vua. Vua cho mời vị Đại tiên, hỏi tường tận về pháp thuật, tiên ông bảo hãy chuẩn bị lập đàn ở nơi cao ráo, sạch sẽ, dựng 8 cửa, 8 tháp như hình bát quái trận đồ và dạy hai công chúa tất cả những bí quyết phù chú. Trong khoảng trăm ngày, việc học tập đã thành thạo. Bèn chọn ngày tốt, xem địa thế và lập đàn trừ yêu. Dùng cờ và lọng ngũ sắc mỗi thứ 100 cái, rồi rước vị Huyền Chân Đại đế ở phương Bắc chủ trì đàn chấn yêu. Lại dựng miếu thờ vĩnh viễn, để con cáo yêu quái sau khi bắt được, không thể lại hiện hình, tác quái được nữa. Vua theo lời lập 3 đàn, ở giữa thờ thần thiên, địa, thần Kỳ đại tiên chủ trì, đàn tả thờ dương thần, đàn hữu thờ âm thần do hai công chúa phụng lễ. Đến ngày ltiên ông một tay cầm bùa, một tay cầm kiếm, chỉ vào trước núi đá. Bỗng thấy con cáo từ trong hang núi nhảy vọt ra. Đá núi đổ xuống. sóng nước sôi lên, bắn tung tóe ra bốn phía, rừng lim sụt xuống, tất cả biến thành hồ nước, đất sụt tới tận bên cạnh đên. Trong đàn lửa bốc lên cờ lọng bị cháy hết. Phía trên đám lửa kết thành một đám mây đen bay lên lưng chừng trời. Tiên ông bắt trói con yêu quái bay lên không trung, sau cùng không thấy nữa. Chỉ còn hai công chúa bất quyết ngồi ở trên đàn lửa chẳng hề bén đến thân thể. Quan quân báo tin về với vua Lý, vua theo như lời tiên ông nói trước, sai dựng đền ở nơi lập đàn, để hai công chúa sớm chiều thờ phụng. Đền ở sát bên hồ, cùng lập miếu để thờ Huyền Chân Đại đế và chỗ dựng 8 tháp nơi đàn cũ, xây ngôi chùa để hai công chúa trụ trì. Sau một thời gian, hai công chúa cũng hóa theo Tiên, Phật. Triều Lý, hai mùa xuân thu, chùa và miều đều có lệ Quốc tế; Giao cho dân trồng coi thờ phụng Đến đời Lê Thánh Tông, chia một nửa ruộng đất thôn Trích sải cho các cung phi làm thái địa, đặt tên là Thiên Niên Trang, lập miều và điện cho các cung phi ở đó phụng sự. Nhân trước miều có chứa 8 tháp bèn rời đến chỗ đất cao hơn và dựng lại chùa. Vì trang gọi là Thiên NiênTrang nên chùa cũng gọi là Thiên Niên Tự để làm nơi cung phi thờ phật và tu hành. Sau đó khoảng vài chục năm các cung phi cũng về hầu hạ nơi cung tiên, còn hơn hai mươi người vẫn ở lại đó. Hoàng triều (Nguyễn) khoảng năm Minh Mệnh (1820-1840) Trang và Chùa sát nhập vào địa phận xã Trích Sải. Từ đó về sau những người trụ trì ở chùa, hoặc là sư hoặc là Hoà Thượng chưa kê cứu được. Chỉ thấy quả chuông đồng cũ có khắc những chữ: "Nhà sư trụ trì Dưỡng Chân Thị, nguyên công bộ Hiệp lý triều Lê đảm nhiệm thuê đúc chuông và tự tay viết chữ khắc vào". Cuối đời Lê có quan Thái bảo Đà Quốc Công sửa lại chùa và cúng ruộng nay hiện còn bia. Trong thời gian ấy thầy chùa có khi là người làng được đến giữ chùa cũng phật. Đến niên hiệu Thành Thái thứ 5 (1893) trở về sau dân làng mời nhà sư đến mà rộng phòng ở, sửa mới lại chùa, tô thêm tượng Phật, đúc lại chương đồng. Sau khi chuông đúc xong bên khác chữ để lưu niệm. Trích "Hoàn Long Trích Sài Thiên Niên Tự" |
Tin mới
Vườn hoa sao bướm nở rực rỡ trên đỉnh Tà Xùa, hút khách check-in
Hồ Tà Phình (Sơn La): Điểm đến "vịnh trên núi" độc đáo cách Hà Nội 220km
Tin bài khác
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng: Điểm đến du lịch lý tưởng
Hà Nội nhận 2 giải thưởng tại Giải thưởng Du lịch Thế giới 2026
Tour 4 ngày cùng kiểm lâm Cát Tiên lọt chung khảo giải du lịch quốc tế
Người trẻ 5 năm tạo tác bonsai hải châu: Hành trình từ phôi cây đến tác phẩm hoàn thiện
Hà Tĩnh: Đánh thức tiềm năng thiên nhiên từ du lịch sinh thái, trải nghiệm
3 cây bonsai được người chơi lâu năm ưa chuộng, càng chăm lâu càng có giá trị
Đá A Lưới – nét đẹp riêng của đất Huế qua bộ sưu tập của nhà sưu tập Kha Nguyễn
Đam mê mãnh liệt – từ người tài xế đến nghệ nhân bonsai với hàng trăm tác phẩm giá trị
Tinh hoa làng nghề Việt: Từ giá trị truyền thống đến sức sống mới
"Rừng Tùng trên phiến gỗ" - Khi nghệ thuật Bonsai bước ra khỏi chiếc chậu
Nghệ nhân Vương Quốc Hưng – gieo mầm nghệ thuật, lan tỏa giá trị nhân văn
TS. Bùi Hữu Dược: Đam mê và nhân duyên
Hà Nội dự kiến tổ chức Festival làng nghề toàn cầu lần thứ nhất vào tháng 12
Dùng lá quế, trà hoa vàng nuôi gà Tiên Yên ở Quảng Ninh
3 loài hoa bụi hoang dã đẹp mê mẩn mỗi độ thu đông, tô sắc lối đi, gửi gắm bình an và sức sống
Loại rau thơm dân dã có nhiều công dụng, trồng chậu làm bonsai đẹp mắt
Dương xỉ bonsai: Vẻ đẹp hoang dã mang năng lượng thịnh vượng vào nhà
Lòn bon xứ Quảng trên hành trình nâng giá trị
Từ 5/10, người đăng tin giả có thể bị công khai danh tính, khóa tài khoản
Món xưa "cứu đói" nhà nghèo nay thành đặc sản giá 50.000 đồng/kg
Vì sao cá chim trắng được ví là “đệ nhất ngư”, dân sành ăn ưa chuộng?
Nuôi giống gà nhỏ nhất thế giới trong trường học cũ, chàng trai kiếm bộn tiền
Siêu thị Thái Lan dùng lá chuối thay bao bì nhựa, mở hướng cho bán lẻ xanh
Hội tụ tinh hoa bonsai và suiseki trong ASPAC -18 tại thành phố Bắc Ninh
Không khí rộn ràng hội tụ về Triển lãm cây cảnh nghệ thuật Đông Anh năm 2026
Thực thi CITES đối với hoa lan: Từ kinh nghiệm quốc tế đến giải pháp quản lý theo rủi ro cho ngành hoa Việt Nam
Nhà có 3 cây cảnh này, không gian thêm sang trọng, xanh mát quanh năm
Chuyển hướng trồng cam hữu cơ, nâng cao hiệu quả kinh tế
Sau cơn sốt lan đột biến, nhiều nhà vườn trắng tay
Bỏ nuôi tôm hùm, nông dân Quảng Ngãi chuyển sang nuôi cá mú, thu tiền tỷ mỗi năm
Cẩm Bình: Nuôi cá chạch trên bè, thử sức với mô hình kinh tế mới
Cổng cưới rồng phụng từ hoa trái tự nhiên, nét độc đáo của miền Tây
Vườn hoa sao bướm nở rực rỡ trên đỉnh Tà Xùa, hút khách check-in
Từ tượng “Vua cõng Phật” chùa Hòe Nhai: Quyền lực lớn nhất là tự sửa mình
Ngôi nhà có phong thủy đẹp thường có 7 đặc điểm này
Trốn phố, về biển, sống chậm một chút
Độc đáo vườn thú “Bách Điểu” giữa không gian sinh thái Hà Tĩnh
Đam mê sinh vật cảnh, gây dựng cơ nghiệp từ những gốc bonsai cổ thụ
Lão nông Hà Tĩnh được mệnh danh “vua” bonsai vùng đất địa linh nhân kiệt
Khai mạc Triển lãm Cây cảnh nghệ thuật Xứ Nghệ lần thứ I năm 2026




