Khi chuỗi liên kết trở thành trục xoay của kinh tế carbon thấp
Thế giới đang chứng kiến một cuộc chuyển mình mạnh mẽ từ mô hình tăng trưởng truyền thống sang mô hình tăng trưởng xanh, lấy hiệu quả tài nguyên, năng lượng và môi trường làm thước đo của phát triển. Trong bức tranh đó, “chuỗi liên kết” không chỉ là giải pháp quản lý sản xuất mà còn là trục xoay trung tâm của nền kinh tế carbon thấp. Khi các tác nhân trong chuỗi – Nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân – cùng gắn kết, chia sẻ lợi ích và rủi ro, toàn bộ hệ thống nông nghiệp trở nên linh hoạt hơn, minh bạch hơn và có khả năng giảm phát thải bền vững hơn. Liên kết nay không chỉ dừng lại ở những hợp đồng tiêu thụ đơn lẻ mà đã trở thành cơ chế quản trị mới, nơi lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường được tích hợp thành một thể thống nhất.
![]() |
| Toàn cảnh Hội nghị sơ kết 6 năm thực hiện Nghị định số 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. - (Ảnh: Khương Trung) |
Sáng 11/11, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức Hội nghị sơ kết 6 năm thực hiện Nghị định số 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Hội nghị là dịp nhìn lại những kết quả nổi bật, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện, đồng thời định hướng sửa đổi, bổ sung chính sách nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và thích ứng biến đổi khí hậu.
Theo báo cáo tại hội nghị, sau sáu năm triển khai, Nghị định 98 đã tạo ra bước ngoặt lớn trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Hơn 2.938 dự án liên kết được phê duyệt với tổng kinh phí hơn 15.200 tỷ đồng, trong đó ngân sách Nhà nước chỉ chiếm khoảng 21%, phần còn lại được huy động từ nguồn lực xã hội. Đáng chú ý, 79% dự án do hợp tác xã chủ trì, thể hiện vai trò then chốt của kinh tế tập thể trong việc kiến tạo chuỗi giá trị nông sản bền vững. Các vùng nguyên liệu tập trung, tiêu chuẩn hóa quy trình sản xuất, nâng cao giá trị thương hiệu đã giúp những sản phẩm chủ lực như gạo ST25, cà phê Buôn Ma Thuột, điều Bình Phước hay trái cây Nam Bộ khẳng định vị thế vững chắc trên thị trường quốc tế.
![]() |
| Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng phát biểu tại Hội nghị. - (Ảnh: Khương Lực) |
Chuỗi liên kết không chỉ là chiếc cầu nối giữa sản xuất và tiêu thụ, mà còn là động lực thúc đẩy chuyển đổi xanh trong nông nghiệp. Từ những hợp đồng mua bán rời rạc, các mô hình liên kết nay đã tiến tới quản trị chuỗi giá trị khép kín. Điển hình như Hợp tác xã Long Thành Phát (Đồng Nai) liên kết với Công ty KOYU & UNITEK giúp nông dân chủ động đàm phán trực tiếp với nhà cung cấp thức ăn, thuốc thú y, đơn vị vận chuyển – giảm chi phí trung gian và tăng thu nhập thực tế. Hiện nay, tỷ lệ giá trị sản phẩm nông nghiệp được sản xuất theo hình thức hợp tác – liên kết đạt 31,2%, dự kiến vượt 32% vào năm 2025. Nhiều địa phương như Đồng Tháp, Sơn La, Lâm Đồng đã hình thành hệ thống tổ khuyến nông cộng đồng và mạng lưới tư vấn kỹ thuật hỗ trợ hợp tác xã xây dựng vùng nguyên liệu lớn, chuẩn hóa quy trình sản xuất, từ đó mỗi đồng vốn ngân sách bỏ ra đã huy động được tới 4,6 đồng vốn xã hội, cho thấy sức lan tỏa mạnh mẽ của mô hình liên kết.
Dẫu vậy, trước yêu cầu của nền kinh tế xanh và thời đại số, Nghị định 98 đã bộc lộ một số hạn chế. Chính sách hiện nay vẫn đặt nặng yếu tố hợp đồng liên kết, chưa bao quát được chuỗi giá trị có chia sẻ lợi ích và rủi ro. Cơ chế hỗ trợ mang tính dự án, thiếu tính linh hoạt, chưa khuyến khích ứng dụng công nghệ số hay đổi mới sáng tạo trong quản trị chuỗi. Đặc biệt, các công cụ về tín dụng xanh, bảo hiểm nông nghiệp, đo đạc và thương mại tín chỉ carbon chưa được tích hợp, khiến doanh nghiệp và hợp tác xã khó tiếp cận chính sách. Nhiều địa phương còn chú trọng vào hình thức mà chưa đi sâu vào nội dung, dẫn đến việc liên kết vẫn dừng ở khâu sản xuất, chưa khép kín đến tiêu thụ, chế biến hay quản lý phát thải.
Trong định hướng sửa đổi, Nghị định mới sẽ chuyển mạnh từ tư duy “liên kết sản xuất” sang “quản trị chuỗi giá trị xanh – số hóa”. Cơ chế hỗ trợ sẽ được thiết kế lại theo hướng “hỗ trợ dựa trên kết quả”, tức là chỉ giải ngân khi liên kết chứng minh được hiệu quả về tiêu thụ, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải và đạt chứng nhận kỹ thuật. Đồng thời, việc số hóa toàn bộ quá trình liên kết cũng sẽ được đẩy mạnh. Một nền tảng số quốc gia về liên kết nông nghiệp sẽ tích hợp dữ liệu hợp đồng, mã vùng trồng, lượng phát thải và chứng nhận truy xuất, giúp việc quản lý minh bạch, giảm thiểu gian lận và tạo cơ sở tham gia thị trường tín chỉ carbon. Hợp đồng điện tử có chữ ký số sẽ thay thế cho các bản giấy, vừa tiết kiệm chi phí, vừa bảo đảm pháp lý.
![]() |
| Những mô hình sản xuất hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, tái sử dụng phụ phẩm và tích lũy tín chỉ carbon sẽ được khuyến khích mở rộng, tiến tới hình thành thị trường carbon nông nghiệp Việt Nam. |
Gắn với định hướng phát triển kinh tế carbon thấp, mỗi chuỗi liên kết trong tương lai sẽ được yêu cầu đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường, có hệ thống đo đạc – báo cáo – thẩm định phát thải (MRV) rõ ràng. Những mô hình sản xuất hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, tái sử dụng phụ phẩm và tích lũy tín chỉ carbon sẽ được khuyến khích mở rộng, tiến tới hình thành thị trường carbon nông nghiệp Việt Nam. Cùng với đó, Nhà nước sẽ đặt hàng các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp tư vấn tham gia đào tạo, lập kế hoạch và giám sát chuỗi liên kết; đồng thời ban hành bộ công cụ chuẩn, bao gồm hợp đồng mẫu, hướng dẫn truy xuất và quy trình điện tử thống nhất trên toàn quốc.
Để tạo nền tảng pháp lý vững chắc, việc hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn lực và tài chính cho chuỗi liên kết cũng là yêu cầu cấp thiết. Các thủ tục hành chính cần được đơn giản hóa, khái niệm “liên kết” cần được mở rộng để bao trùm cả truy xuất điện tử, chứng nhận VietGAP, SRP, hữu cơ, đo phát thải và cơ chế chia sẻ lợi ích – rủi ro. Mô hình đối tác công – tư (PPP) sẽ trở thành động lực đầu tư mới, trong đó Nhà nước hỗ trợ hạ tầng vùng nguyên liệu, còn doanh nghiệp và hợp tác xã đầu tư chế biến, logistics, bảo quản và thị trường. Bên cạnh đó, chính sách tín dụng chuỗi giá trị cần cho phép các chủ thể vay vốn dựa trên hợp đồng liên kết và dữ liệu truy xuất, thay vì yêu cầu thế chấp tài sản; mở rộng bảo hiểm nông nghiệp và quỹ chia sẻ rủi ro cho các chuỗi sản xuất áp dụng công nghệ xanh. Đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng số, quản lý hợp đồng điện tử, sử dụng dữ liệu truy xuất cũng là yếu tố quyết định cho sự thành công lâu dài.
Sau sáu năm triển khai, Nghị định 98 đã chứng minh sức sống và giá trị thực tiễn của mô hình liên kết chuỗi. Tuy nhiên, yêu cầu mới của thời đại số và cam kết Net Zero đang đặt ra nhiệm vụ cải cách mạnh mẽ hơn, để chính sách này không chỉ hỗ trợ sản xuất mà còn trở thành nền tảng thể chế của nền nông nghiệp xanh, hiện đại và hội nhập quốc tế. Như Thứ trưởng Võ Văn Hưng nhấn mạnh, “Liên kết chuỗi giá trị là chìa khóa thể chế cho nền nông nghiệp hiện đại, thích ứng biến đổi khí hậu và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.” Chuỗi liên kết vì thế không chỉ là phương thức tổ chức sản xuất, mà là biểu tượng của niềm tin, của tinh thần hợp tác và bản lĩnh hội nhập của nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp Việt Nam trên con đường xây dựng nền kinh tế carbon thấp, minh bạch và bền vững.
Tin mới
Giải pháp căn cơ ngăn chặn nạn trộm cắp vật nuôi và khuyến cáo an ninh từ Bộ Công an
Quảng Trị: Người dân nhờ kiểm lâm đưa rắn hổ mang chúa trở về môi trường tự nhiên
Tin bài khác
Muốn trồng cây lấy bóng mát trước nhà, người dân cần lưu ý quy định này
Hà Tĩnh: Tăng cường bảo vệ, ngăn chặn hành vi xâm hại cây xanh đô thị
Nộp đủ thuế, mất bao lâu để được hủy tạm hoãn xuất cảnh?
Hà Tĩnh: Vườn cam gần 20 năm tuổi lưu giữ nguồn gen quý
Gần 30 năm gắn bó với đam mê, nghệ nhân Bảy Khoa và bộ sưu tập bonsai cổ thụ ngoại cỡ tại Long An
Làng trầu trăm tuổi Vị Thủy: Từ nét văn hóa Nam Bộ đến hướng đi du lịch nông nghiệp
Có 3 cây bonsai này trong nhà, người xưa tin giúp giữ vượng khí, vun đắp tài lộc
Hoàng Trang bonsai - Gắn bó với nghề từ niềm đam mê tạo tác
Cau cảnh trước cổng: Loài cây giữ phúc, đón tài lộc và bình an cho gia đạo
Khát vọng đưa cây thông nghệ thuật Việt vươn xa của nhà vườn Minh Râu
Chiêm ngưỡng không gian duối đá độc bản tại nhà vườn ông Ba ở Phú Thọ
Làng Chóa giữ nghề làm hương đen hơn 300 năm tuổi
Hà Nội tổ chức Festival làng nghề toàn cầu lần đầu tiên, quy tụ đại biểu từ 50 quốc gia
5 loài hoa đẹp nhưng chứa độc tố nguy hiểm, gia đình có trẻ nhỏ nên tránh trồng
Ứng dụng công nghệ, chủ động ngăn ngừa thoái hóa đất
MEKONG GOLDFISH MASTERS 2026: Dấu mốc mới của cá vàng miền Tây
4 loài hoa, cây cảnh vừa đẹp nhà vừa dùng được trong bếp, trồng một lần thu hoạch dài lâu
Cà chua cổ Sơn La quả xấu lạ, giá cao gấp 2-3 lần vẫn hút khách
Sự kết hợp giữa nhà vườn TP.HCM và làng hoa trăm tuổi Sa Đéc
3 cây cảnh quý gắn với quan niệm hút tài lộc, giữ phúc cho gia đình
Trà hay cà phê tốt cho gan hơn?
Hà Nội siết quản lý chất lượng rau bằng dữ liệu điện tử
Hà Nội đặt mục tiêu phát triển ngành hoa, cây cảnh quy mô 10.000 tỷ đồng
Vì sao trà mướp đắng được người Nhật ưa chuộng?
Ninh Bình: Người dân trồng dứa trên dải phân cách đại lộ, chủ đầu tư yêu cầu trả mặt bằng
Việt Nam: Chi gần 2.000 tỷ đồng mua sắm trực tuyến cho thú cưng trong quý III
Đà Nẵng: Hồi sinh lưới cá cũ, dệt sinh kế xanh cho phụ nữ vùng biển
Anh Vương Mạnh Hùng: Từ đam mê cây cảnh đến tâm huyết xây dựng chợ bonsai tại Phú Thọ
Làng Phù Đổng "khoác áo mới" nhờ tư duy làm nghề hoa giấy bonsai
Hà Nội tháng 11 – Mùa hoa thạch thảo tím gọi mùa nhớ
Thổi hồn vào góc nhà trống trải nhờ 6 loài cây cảnh sở hữu tán lá độc đáo
Hà Nội mùa hoa sữa, thơm một trời ký ức
Khu vườn thượng uyển ngập hoa thơm, cây lạ giữa chốn cung đình Huế
Cúc họa mi - Sứ giả mong manh của đất Kinh kỳ
Tháng 12 về ven sông Đuống ngắm mùa hoa cải vàng
Nhờ du lịch, người dân làng nghề Đà Nẵng sống khỏe với nghề cổ
Hà Tĩnh: Muốn giữ cánh chim trời, phải chặn từ gốc
Hà Tĩnh: Hồng Yên Du vươn mình, nâng tầm giá trị nông sản
Độc đáo vườn thú “Bách Điểu” giữa không gian sinh thái Hà Tĩnh
Đam mê sinh vật cảnh, gây dựng cơ nghiệp từ những gốc bonsai cổ thụ


