Từ tỉnh biên giới, biển đảo đến thành phố trực thuộc Trung ương: Mở ra một chu kỳ phát triển mới
Quảng Ninh đang đứng trước một dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử phát triển: trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Theo hồ sơ đã được Chính phủ thông qua và được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất trình Quốc hội xem xét, nghị quyết thành lập thành phố Quảng Ninh dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/9/2026. Đây không chỉ là sự thay đổi về địa vị hành chính, mà quan trọng hơn, là thời điểm mở ra một không gian phát triển mới, đòi hỏi một tư duy quản trị mới, mô hình kinh tế mới và những chính sách phát triển có tầm nhìn dài hạn hơn.
Không chỉ là một danh xưng mới
Trong lịch sử phát triển của mỗi địa phương, có những thời điểm mà sự thay đổi về thể chế hành chính tạo ra bước ngoặt về không gian phát triển. Với Quảng Ninh, việc trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, nếu được Quốc hội thông qua theo lộ trình dự kiến, chính là một thời điểm như vậy.
![]() |
| Không gian biển đảo Quảng Ninh. |
Theo Đề án được Chính phủ thông qua, thành phố Quảng Ninh được hình thành trên cơ sở giữ nguyên địa giới hành chính hiện nay, với diện tích hơn 6.231 km² và dân số hơn 1,5 triệu người; địa phương đã đáp ứng 7/7 tiêu chuẩn và 5/5 điều kiện theo quy định đối với thành phố trực thuộc Trung ương.
Nhưng điều đáng nói nhất không nằm ở những con số về diện tích, dân số hay số lượng đơn vị hành chính. Điều quan trọng hơn là Quảng Ninh sẽ bước sang một không gian phát triển hoàn toàn khác.
Từ một tỉnh có thế mạnh đặc biệt về công nghiệp khai khoáng, cảng biển, du lịch, dịch vụ, kinh tế biển và biên mậu, Quảng Ninh có cơ hội chuyển mình thành một đô thị - vùng kinh tế tổng hợp, đa trung tâm, đa chức năng; một cực tăng trưởng quan trọng của quốc gia và một cửa ngõ giao thương quốc tế ở phía Bắc. Đó là bước chuyển từ tư duy “quản lý một tỉnh” sang “quản trị một thành phố - vùng”.
Và vì thế, điều Quảng Ninh cần chuẩn bị cho giai đoạn mới không chỉ là biển hiệu, con dấu, tổ chức bộ máy hay tên gọi hành chính. Điều cần chuẩn bị lớn hơn rất nhiều là "một hệ tư duy phát triển mới".
Thế và lực đặc biệt để bứt phá
Quảng Ninh có một vị trí địa - kinh tế đặc biệt hiếm có.
Địa phương vừa có biên giới đất liền với Trung Quốc, vừa có đường biên giới trên biển; có hệ thống cảng biển, cửa khẩu, sân bay, cao tốc, đường sắt và các hành lang giao thông kết nối với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
![]() |
| Cửa khẩu quốc tế Móng Cái. |
Quảng Ninh đồng thời sở hữu Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, hệ thống đảo và vùng biển rộng lớn, các khu kinh tế, khu công nghiệp, tài nguyên rừng, đất đai, khoáng sản và một không gian văn hóa - lịch sử giàu bản sắc.
Đặc biệt, Quảng Ninh có cấu trúc phát triển rất khác biệt: đô thị - công nghiệp - biển đảo - nông thôn - miền núi - biên giới cùng tồn tại trong một không gian hành chính thống nhất.
Đây vừa là thách thức, vừa là lợi thế chiến lược.
Nếu các khu vực phát triển riêng rẽ, Quảng Ninh sẽ chỉ có một tập hợp các địa phương mạnh.
Nhưng nếu kết nối được các không gian ấy thành một hệ sinh thái kinh tế thống nhất, Quảng Ninh có thể hình thành một mô hình phát triển rất đặc thù: thành phố biển hiện đại gắn với rừng, đảo, biên giới, cảng biển, công nghiệp công nghệ cao, du lịch quốc tế và kinh tế tri thức.
Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 80/QĐ-TTg ngày 11/2/2023 đã tạo nền tảng quan trọng cho định hướng phát triển này.
Vấn đề đặt ra hiện nay là phải nâng tầm quy hoạch thành chiến lược phát triển của một thành phố trực thuộc Trung ương, đồng thời tổ chức lại không gian kinh tế theo hướng liên kết, bổ trợ và tạo giá trị gia tăng cao hơn.
Từ “tăng trưởng cao” đến “tăng trưởng có chất lượng”
Quảng Ninh đã hình thành một nền kinh tế có quy mô khá lớn và năng lực thu ngân sách, thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp - dịch vụ thuộc nhóm dẫn đầu cả nước.
Năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 12,5%, GRDP bình quân đầu người từ 11.800 USD trở lên, đồng thời xác định công nghiệp chế biến, chế tạo là một động lực tăng trưởng mới. Đây là những nền tảng quan trọng. Nhưng trong giai đoạn mới, câu hỏi không còn đơn giản là Quảng Ninh tăng trưởng bao nhiêu phần trăm. Câu hỏi lớn hơn phải là: Tăng trưởng dựa vào đâu? Tạo ra giá trị gì? Phân bổ lợi ích cho ai? Và có thể duy trì trong bao lâu? Một thành phố trực thuộc Trung ương không thể tiếp tục phát triển dựa quá nhiều vào khai thác tài nguyên, mở rộng đất đai hay tăng nhanh đầu tư theo chiều rộng.
Quảng Ninh cần chuyển mạnh sang mô hình: Công nghệ cao + kinh tế số + kinh tế biển + dịch vụ chất lượng cao + du lịch xanh + công nghiệp xanh + kinh tế tri thức + kinh tế tuần hoàn. Trong đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành hạ tầng phát triển, chứ không chỉ là một chương trình riêng của ngành khoa học hoặc công nghệ. Đây cũng chính là tinh thần cốt lõi của Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia: lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, nhà khoa học là nhân tố then chốt, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt; đồng thời coi thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những yếu tố cốt lõi.
Chính sách thứ nhất: xây dựng Quảng Ninh thành “thành phố - vùng” đa trung tâm
Quảng Ninh không nên phát triển theo mô hình một đô thị trung tâm duy nhất. Cần hình thành mạng lưới đô thị đa cực, trong đó mỗi cực có một chức năng chiến lược: Hạ Long là trung tâm hành chính, văn hóa, du lịch quốc tế và dịch vụ cao cấp; Cẩm Phả - Quảng Yên phát triển công nghiệp hiện đại, công nghiệp hỗ trợ, logistics và cảng biển; Uông Bí - Đông Triều trở thành không gian công nghiệp, dịch vụ, văn hóa - tâm linh và đô thị phía Tây; Vân Đồn trở thành trung tâm kinh tế biển, du lịch cao cấp, dịch vụ quốc tế và đổi mới sáng tạo; Móng Cái trở thành cực tăng trưởng cửa khẩu, thương mại quốc tế, logistics và hợp tác kinh tế qua biên giới; Cô Tô và hệ thống đảo trở thành không gian du lịch biển đảo, sinh thái, nghiên cứu biển và bảo tồn đa dạng sinh học; Khu vực miền núi, biên giới phát triển kinh tế rừng, nông - lâm nghiệp sinh thái, dược liệu, chăn nuôi dưới tán rừng và du lịch cộng đồng. Mục tiêu không phải để các địa phương cạnh tranh với nhau, mà là phân công để cùng phát triển.
Chính sách thứ hai: biến kinh tế biển thành trụ cột số một
Quảng Ninh có thể trở thành một trong những trung tâm kinh tế biển lớn nhất Việt Nam. Nhưng kinh tế biển không chỉ là du lịch biển và khai thác hải sản. Cần xây dựng một hệ sinh thái kinh tế biển hoàn chỉnh, bao gồm: cảng biển - logistics - vận tải biển - công nghiệp ven biển - nuôi biển công nghệ cao - chế biến thủy sản - năng lượng tái tạo - du lịch biển đảo - dịch vụ hàng hải - nghiên cứu biển - bảo tồn biển.
Đặc biệt, cần chuyển từ tư duy “nuôi trồng thủy sản” sang “kinh tế biển xanh”. Quảng Ninh có thể xây dựng các vùng nuôi biển công nghệ cao đối với nhuyễn thể, cá biển, rong biển và các sản phẩm có giá trị cao; phát triển chuỗi từ con giống - nuôi thương phẩm - chế biến - logistics lạnh - thương hiệu - xuất khẩu. Cùng với đó là chính sách phát triển cảng cá thông minh, trung tâm hậu cần nghề cá, trung tâm đấu giá thủy sản, kho lạnh và chế biến sâu. Khi đó, mỗi tấn cá, mỗi tấn hàu, mỗi sản phẩm biển không còn được nhìn đơn thuần như một sản phẩm nông nghiệp, mà trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị kinh tế biển.
Chính sách thứ ba: phát triển “rừng có giá trị” thay vì chỉ “rừng có diện tích”
Quảng Ninh có lợi thế rất lớn về rừng, trong đó có rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất và hệ sinh thái rừng ngập mặn. Trong giai đoạn mới, cần chuyển mạnh từ tư duy bảo vệ rừng đơn thuần sang kinh tế rừng bền vững gắn với bảo tồn. Có thể hình thành các ngành kinh tế mới: tín chỉ carbon rừng; dược liệu dưới tán rừng; mật ong; chăn nuôi dưới tán rừng; lâm sản ngoài gỗ; du lịch sinh thái; dịch vụ môi trường rừng; nghiên cứu đa dạng sinh học. Đặc biệt, cần xây dựng Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế sinh thái rừng của vùng Đông Bắc.
![]() |
| Rừng Quảng Ninh. |
Một ha rừng không chỉ được tính bằng số mét khối gỗ.Giá trị của một ha rừng phải được tính bằng tổng giá trị của carbon được lưu giữ, nước được bảo vệ, đa dạng sinh học được duy trì, cảnh quan được tạo ra, du lịch sinh thái được phát triển và sinh kế mà rừng mang lại cho cộng đồng. Đây chính là cách tiếp cận của nền kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Chính sách thứ tư: tạo “hành lang chính sách đặc biệt” cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Quảng Ninh cần mạnh dạn xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cấp thành phố trực thuộc Trung ương. Không nhất thiết phải bắt đầu bằng những công trình thật lớn. Có thể bắt đầu từ một cơ chế thật khác biệt.
Thành phố cần có chính sách đặc thù để: thu hút chuyên gia, nhà khoa học và nhân lực công nghệ cao; hình thành quỹ đổi mới sáng tạo; đặt hàng doanh nghiệp giải quyết các bài toán phát triển của thành phố; hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu; phát triển dữ liệu mở và dữ liệu dùng chung; xây dựng nền tảng đô thị số; ứng dụng AI trong quản trị đô thị, du lịch, môi trường, giao thông, y tế, giáo dục và nông nghiệp; phát triển các trung tâm nghiên cứu biển, công nghệ môi trường, công nghệ sinh học và kinh tế số. Quảng Ninh đã xác định hạ tầng số phải đi trước một bước để tạo nền móng cho chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Giai đoạn tới cần tiến thêm một bước: Không chỉ xây dựng chính quyền số, mà xây dựng một “thành phố vận hành bằng dữ liệu”.
Chính sách thứ năm: xây dựng thương hiệu Quảng Ninh thành thương hiệu quốc gia
Quảng Ninh đã có một thương hiệu mà nhiều địa phương mơ ước: Hạ Long. Nhưng tương lai cần lớn hơn thương hiệu Vịnh Hạ Long. Cần xây dựng thương hiệu tổng thể: Quảng Ninh – thành phố di sản, biển, rừng và biên giới; trung tâm kinh tế biển và du lịch quốc tế của Việt Nam. Thương hiệu ấy phải bao trùm: Vịnh Hạ Long - Bái Tử Long; Yên Tử; Cô Tô; Vân Đồn; Móng Cái; các làng nghề; sản phẩm OCOP; thủy sản; nông nghiệp sinh thái; dược liệu; sinh vật cảnh; sản phẩm văn hóa và các dịch vụ chất lượng cao. Cần chuyển từ “quảng bá điểm đến” sang “quản trị thương hiệu vùng”. Mỗi sản phẩm mang tên Quảng Ninh phải trở thành một đại sứ của địa phương.
Chính sách thứ sáu: xây dựng Quảng Ninh thành trung tâm logistics phía Bắc
Vị trí của Quảng Ninh cho phép địa phương kết nối với Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn, Trung Quốc và các tuyến hàng hải quốc tế. Đây là lợi thế mà cần được khai thác ở tầm chiến lược. Cần hình thành chuỗi logistics liên hoàn: Cửa khẩu - đường cao tốc - đường sắt - cảng biển - kho lạnh - trung tâm phân phối - thương mại điện tử - vận tải quốc tế.
Móng Cái cần được đặt trong một chiến lược phát triển logistics xuyên biên giới. Cái Lân, Hải Hà, Quảng Yên và các khu vực cảng biển cần được kết nối thành mạng lưới. Vân Đồn có thể phát triển các dịch vụ logistics hàng không và thương mại quốc tế. Khi logistics phát triển, Quảng Ninh không chỉ thu được nguồn thu từ dịch vụ, mà còn có thể trở thành điểm trung chuyển hàng hóa của cả vùng Đông Bắc.
Chính sách thứ bảy: lấy chất lượng sống của người dân làm thước đo cuối cùng
Một thành phố giàu có nhưng người dân phải chịu ô nhiễm, ùn tắc, thiếu không gian công cộng hay chi phí sống quá cao thì chưa thể gọi là một thành phố phát triển bền vững. Vì vậy, chính sách phát triển giai đoạn mới phải đặt con người ở trung tâm. Cần có chiến lược dài hạn về: Nhà ở; y tế; giáo dục; văn hóa; thể thao; giao thông công cộng; cây xanh; mặt nước; môi trường; an sinh xã hội; việc làm và đào tạo nghề.
Đặc biệt, cần tránh khoảng cách phát triển quá lớn giữa đô thị trung tâm với miền núi, biên giới, hải đảo. Thành phố trực thuộc Trung ương phải là một không gian mà người dân ở Bình Liêu, Ba Chẽ, Cô Tô hay Móng Cái đều được hưởng lợi từ sự phát triển chung, chứ không phải chỉ người dân tại các đô thị lớn.
Chính sách thứ tám: xây dựng một chính quyền đô thị kiến tạo và chuyên nghiệp
Thay đổi lớn nhất khi Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương phải là thay đổi phương thức quản trị. Chính quyền phải chuyển từ: quản lý → phục vụ → kiến tạo → đồng hành → dẫn dắt phát triển.
Mỗi thủ tục hành chính phải được nhìn từ góc độ: “Doanh nghiệp mất bao nhiêu thời gian? Người dân mất bao nhiêu chi phí? Nhà đầu tư phải đi qua bao nhiêu cửa?”
Cần xây dựng một nền hành chính: một cửa thực chất - dữ liệu liên thông - hồ sơ số - giám sát thời gian thực - trách nhiệm cá nhân - đánh giá bằng kết quả đầu ra. Đồng thời phải xây dựng đội ngũ cán bộ có tư duy đô thị, tư duy kinh tế và tư duy quốc tế. Thành phố trực thuộc Trung ương không thể được vận hành bằng tư duy quản lý hành chính thuần túy của một tỉnh truyền thống.
Chính sách thứ chín: dành một “khoảng không gian đặc biệt” cho kinh tế tư nhân
Một thành phố phát triển nhanh không thể chỉ dựa vào ngân sách nhà nước. Doanh nghiệp phải trở thành một động lực trung tâm. Quảng Ninh cần tạo môi trường để doanh nghiệp: đầu tư nhanh hơn - đổi mới nhanh hơn - mở rộng nhanh hơn - tiếp cận đất đai, tín dụng, dữ liệu và thị trường thuận lợi hơn. Cùng với các tập đoàn lớn, phải đặc biệt quan tâm đến doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã, hộ kinh doanh và doanh nghiệp khởi nghiệp địa phương.
Cần hình thành các chương trình: “Mỗi doanh nghiệp một sáng kiến”; “Mỗi xã, phường một sản phẩm chủ lực”; “Mỗi sản phẩm có một thương hiệu”; “Mỗi ngành kinh tế có một chuỗi giá trị”. Khi đó, tăng trưởng kinh tế sẽ được lan tỏa xuống từng cộng đồng.
Chính sách thứ mười: xây dựng “Quảng Ninh xanh” thành lợi thế cạnh tranh
Quảng Ninh đã từng đi qua một thời kỳ phát triển dựa nhiều vào khai thác tài nguyên. Giai đoạn mới phải mở ra một thời kỳ khác: Tăng trưởng xanh. Không thể đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng.
Quảng Ninh cần đi đầu cả nước về: kinh tế tuần hoàn; giảm phát thải; năng lượng sạch; giao thông xanh; đô thị xanh; cảng xanh; du lịch xanh; công nghiệp xanh; nông nghiệp sinh thái; phục hồi rừng và hệ sinh thái biển. Đặc biệt, cần xây dựng hệ thống tài khoản vốn tự nhiên để lượng hóa giá trị của rừng, biển, đất ngập nước, đa dạng sinh học và cảnh quan trong quá trình ra quyết định đầu tư. Đó sẽ là một bước tiến rất quan trọng từ “GDP thuần túy” sang “GDP xanh và chất lượng sống”. Một Quảng Ninh mới cần một “khế ước phát triển mới” Trở thành thành phố trực thuộc Trung ương không nên được xem là đích đến. Đó phải là điểm xuất phát của một chu kỳ phát triển mới.
Quy hoạch tỉnh hiện hành đã xác lập tầm nhìn đến năm 2050; trong khi quá trình chuẩn bị thành lập thành phố Quảng Ninh đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện quy hoạch chung đô thị với tầm nhìn xa hơn, đến năm 2075. Điều đó đòi hỏi Quảng Ninh phải có một tầm nhìn vượt khỏi nhiệm kỳ.
Có thể hình dung ba giai đoạn:
Giai đoạn 1 (2026-2030) xây nền: Hoàn thiện thể chế, tổ chức bộ máy, quy hoạch, hạ tầng, kết nối vùng và nền tảng số; tạo bước đột phá về môi trường đầu tư.
Giai đoạn 2 (2031-2040) bứt phá: Trở thành trung tâm kinh tế biển, du lịch quốc tế, logistics, công nghiệp công nghệ cao và đổi mới sáng tạo của miền Bắc.
Giai đoạn 3 (2041-2050) dẫn dắt: Hình thành một đô thị - vùng hiện đại, xanh, thông minh, có năng lực cạnh tranh quốc tế và là một cực tăng trưởng quan trọng của Việt Nam. Từ “thành phố đáng sống” đến “thành phố đáng đầu tư, đáng sáng tạo và đáng tự hào”
Lịch sử Quảng Ninh cho thấy địa phương này nhiều lần đứng trước những lựa chọn lớn. Từ một nền kinh tế dựa nhiều vào than và khai khoáng, Quảng Ninh đã từng bước chuyển sang mô hình phát triển dựa nhiều hơn vào dịch vụ, du lịch, công nghiệp chế biến, chế tạo và kinh tế biển. Bước chuyển tiếp theo còn lớn hơn: từ một tỉnh mạnh trở thành một thành phố - vùng mạnh; từ một cực tăng trưởng của vùng trở thành một cực tăng trưởng của quốc gia; từ khai thác lợi thế tự nhiên sang kiến tạo lợi thế bằng thể chế, công nghệ và con người. Đó chính là ý nghĩa sâu xa của sự kiện Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
Điều cần được chờ đợi không phải chỉ là ngày 1/9/2026 những biển hiệu mới được dựng lên, những con dấu mới được sử dụng hay tên gọi hành chính mới xuất hiện.
Điều đáng chờ đợi hơn là từ ngày ấy, một tư duy phát triển mới được xác lập.
Một Quảng Ninh không chỉ giàu hơn, mà phải xanh hơn, thông minh hơn, nhân văn hơn và có sức cạnh tranh quốc tế cao hơn.
Một Quảng Ninh trong đó biển không chỉ để ngắm mà trở thành động lực kinh tế; rừng không chỉ để giữ mà còn tạo sinh kế bền vững; biên giới không chỉ để bảo vệ mà còn mở ra giao thương; di sản không chỉ để bảo tồn mà trở thành nguồn lực văn hóa; khoa học và công nghệ không chỉ để ứng dụng mà trở thành động lực tăng trưởng; và trên hết, mọi thành quả phát triển cuối cùng phải được chuyển hóa thành chất lượng sống tốt hơn cho người dân.
Nếu làm được điều đó, ngày 1/9/2026 sẽ không chỉ là ngày Quảng Ninh thay đổi địa vị hành chính.
Đó sẽ là ngày mở đầu cho một chương mới trong lịch sử phát triển của vùng đất Đông Bắc – chương của một thành phố biển, biên giới, di sản, sinh thái và đổi mới sáng tạo mang tầm quốc gia, khu vực và quốc tế.
Quảng Ninh đã có “thiên thời” của một bước ngoặt. Có “địa lợi” của vị trí chiến lược. Có “nhân hòa” của truyền thống đoàn kết, đổi mới và khát vọng vươn lên. Vấn đề còn lại là biến thời cơ thành chính sách, lợi thế thành năng lực cạnh tranh và khát vọng thành những thành quả phát triển cụ thể.
Đó mới là thước đo thực sự của một thành phố trực thuộc Trung ương trong kỷ nguyên mới./.
Tin mới
Từ “lợi thế sẵn có” đến “lợi thế cạnh tranh”: Kiến tạo động lực tăng trưởng mới cho Quảng Ninh
Liên minh HTX Việt Nam đổi mới để dẫn dắt khu vực kinh tế tập thể
Tin bài khác
Hà Nội miễn phí tham quan di tích, danh thắng trong ngày Quốc khánh 2/9
Đặc sản ba miền hội tụ tại chợ lớn nhất Hà Tĩnh
Đà Nẵng mở rộng không gian đô thị: Nối những mạch sống, dệt mảng xanh bền vững
Nghề nón trăm năm ở Vĩnh Thịnh: Giữ nghề để có thêm thu nhập
Nghề đan quạt nan – Nét đẹp nghề thủ công truyền thống ở thôn Chiền (Hà Nội)
Về Quảng Trị, ghé ngôi nhà nơi cây cảnh và cổ vật kể chuyện thời gian
Lê Sinh - Người khai mở thú chơi đá cảnh ở Quảng Trị
Giữ tiếng Then, nghề xưa giữa dòng chảy du lịch cộng đồng Hữu Liên
Về làng Vân say men nồng hương rượu nếp
Người phụ nữ U70 giữ lửa đam mê duối đá ở Phú Thọ
Biến nhà rông thành sản phẩm lưu niệm, nghệ nhân 75 tuổi giữ nghề cha ông
Hơn 300 năm, nghề làm nón ngựa Phú Gia vẫn được người đàn ông 80 tuổi gìn giữ
Lê Duy Hùng - người kể chuyện làng quê Bắc Bộ bằng những tiểu cảnh
Đà Nẵng mở rộng không gian đô thị: Nối những mạch sống, dệt mảng xanh bền vững
Kỹ thuật xử lý chôm chôm ra hoa trái vụ, chủ động thời điểm thu hoạch
Theo phong thủy, đây là 4 loại cây nên tránh trồng trong nhà, gia chủ cần lưu ý
Không vốn, trai làng Huế nhặt mầm hoa bỏ đi rồi gây dựng vườn súng 7ha
Cục Hải quan hướng dẫn thủ tục xuất nhập khẩu cây cảnh, thú cưng và bò sát
Bưởi Phúc Trạch mất mùa, nhà vườn vẫn kỳ vọng vụ thu hoạch khả quan
5 loại cây cảnh vừa đẹp nhà vừa an toàn cho gia đình có trẻ nhỏ
23 thông báo SPS trong nửa tháng: Nông sản Việt cần “đọc luật” trước khi xuất hàng
Phát triển sen Việt: Cần một hệ sinh thái liên kết
Đàn cừu “kéo” khách về trang trại, mở hướng làm du lịch từ nông nghiệp
Chăn vịt ở Phong Nha, trải nghiệm độc - lạ khiến du khách thích thú
“Cú liều” với nho sữa giúp người đàn ông Hà Nội đổi đời
Nữ nông dân Hà Nội bỏ nghề "hái ra tiền", về quê trồng rau má bằng công nghệ cao
Dấu xưa thú chơi cây cảnh trong cung đình triều Nguyễn
119 năm ngày mất Đào Tấn – Người đưa nghệ thuật Tuồng lên đỉnh cao
Đặc sản chợ đêm Cửa Lò bán theo mớ, hút khách trải nghiệm giữa lòng phố biển
Ninh Bình vào mùa hoa súng, cảnh sắc đẹp tựa tranh vẽ
Thái Nguyên: Điểm đến du lịch nông thôn tiêu biểu, nơi hội tụ sinh thái, nông nghiệp và trải nghiệm
Đặc sản ba miền hội tụ tại chợ lớn nhất Hà Tĩnh
Về Quảng Trị, ghé ngôi nhà nơi cây cảnh và cổ vật kể chuyện thời gian
Một năm nhìn lại: Dấu ấn CLB Sinh vật cảnh Thường Tín
CLB Truyền thông Việt Nam hương sắc thăm, giao lưu tại vườn cảnh của nghệ nhân Nguyễn Tiến Ngữ


