Từ “lợi thế sẵn có” đến “lợi thế cạnh tranh”: Kiến tạo động lực tăng trưởng mới cho Quảng Ninh
![]() |
| Quảng Ninh đang đứng trước yêu cầu chuyển từ khai thác lợi thếẢnh 1: Quảng Ninh đang hình thành một không gian phát triển đa trung tâm, kết nối đô thị, công nghiệp, biển đảo, dịch vụ và các hành lang kinh tế quốc tế. Ảnh: Tạp chí Kiến trúc. |
Biển, rừng, di sản, cửa khẩu, cảng biển, hạ tầng, công nghiệp và vị trí địa chiến lược là những tài sản quý giá, nhưng trong một chu kỳ phát triển mới, lợi thế tự nhiên chỉ thực sự trở thành sức mạnh kinh tế khi được tổ chức bằng thể chế, công nghệ, nguồn nhân lực và thị trường.
Không thể bước vào tương lai bằng mô hình tăng trưởng của quá khứ
Những năm qua, Quảng Ninh duy trì tốc độ tăng trưởng cao, từng bước chuyển dịch từ mô hình dựa nhiều vào khai thác tài nguyên sang phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ, du lịch và kinh tế biển. Năm 2025, GRDP tăng 11,89%; quy mô nền kinh tế đạt khoảng 368.445 tỷ đồng; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 33,69%; du lịch đón khoảng 21,28 triệu lượt khách.
Những kết quả đó tạo nền tảng quan trọng để Quảng Ninh bước vào giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, khi quy mô kinh tế ngày càng lớn, việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao sẽ đòi hỏi những động lực mới. Dư địa của mô hình dựa vào mở rộng đầu tư, đất đai và khai thác tài nguyên sẽ ngày càng thu hẹp.
Vấn đề đặt ra vì thế không còn đơn thuần là Quảng Ninh có những lợi thế gì, mà là làm thế nào để biến những lợi thế ấy thành năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh.
Đây là bước chuyển từ tư duy khai thác lợi thế sang kiến tạo lợi thế.
Bốn động lực cho một chu kỳ phát triển mới
Để đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân 12%/năm giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh cần đồng thời phát triển những động lực mới có khả năng tạo giá trị cao và lan tỏa rộng.
Một là, công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp xanh.
Công nghiệp chế biến, chế tạo đang trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng. Giai đoạn tới cần chuyển trọng tâm từ thu hút dự án theo số lượng sang lựa chọn những dự án có công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, sử dụng năng lượng hiệu quả, ít phát thải và có khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng.
Điện tử, thiết bị điện, cơ khí chính xác, vật liệu mới, tự động hóa, công nghiệp hỗ trợ và công nghệ môi trường cần được ưu tiên.
Quan trọng hơn, mỗi khu công nghiệp phải từng bước trở thành một hệ sinh thái sản xuất, trong đó doanh nghiệp lớn liên kết với doanh nghiệp trong nước, cơ sở đào tạo, trung tâm nghiên cứu, logistics và dịch vụ kỹ thuật.
Mục tiêu không chỉ là đưa nhà máy về Quảng Ninh, mà phải đưa doanh nghiệp Quảng Ninh vào chuỗi giá trị của các nhà máy.
Hai là, kinh tế biển xanh.
Với lợi thế về biển, đảo, cảng biển và hệ thống đô thị ven biển, Quảng Ninh có điều kiện hình thành một hệ sinh thái kinh tế biển đa ngành.
Cần kết nối cảng biển, logistics, vận tải biển, công nghiệp ven biển, nuôi biển công nghệ cao, chế biến thủy sản, dịch vụ hàng hải, du lịch biển đảo và nghiên cứu biển thành những chuỗi giá trị liên hoàn.
Trong đó, nuôi biển công nghệ cao cần được xem là một hướng phát triển quan trọng. Quảng Ninh có thể mở rộng các đối tượng có giá trị kinh tế cao như nhuyễn thể, cá biển, rong biển; đồng thời hình thành chuỗi từ con giống, nuôi thương phẩm đến chế biến sâu, kho lạnh, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu và xuất khẩu.
Giá trị của kinh tế biển không chỉ nằm ở sản lượng khai thác hay nuôi trồng, mà ở giá trị gia tăng trên mỗi đơn vị diện tích mặt nước, thu nhập của người dân và khả năng bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái.
Đó chính là kinh tế biển xanh.
Ba là, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng để phát triển đất nước.
Với Quảng Ninh, cần cụ thể hóa bằng nguyên tắc: mỗi ngành kinh tế phải có một bài toán công nghệ và chuyển đổi số.
AI có thể phục vụ quản trị đô thị; công nghệ số nâng chất lượng du lịch; IoT hỗ trợ nuôi biển; viễn thám và GIS quản lý rừng; dữ liệu phục vụ quy hoạch, đất đai; công nghệ số hỗ trợ logistics, cửa khẩu và cảng biển.
Xa hơn, cần hình thành hệ thống dữ liệu phát triển dùng chung, để chính quyền tăng năng lực dự báo và điều hành dựa trên dữ liệu.
Khoa học cũng cần chuyển từ “nghiên cứu để có đề tài” sang “nghiên cứu để giải quyết bài toán phát triển”. Doanh nghiệp phải trở thành nơi đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Bốn là, kinh tế sinh thái và kinh tế dựa vào vốn tự nhiên.
Rừng, biển, đất ngập nước, đa dạng sinh học và cảnh quan là nguồn vốn tự nhiên đặc biệt của Quảng Ninh.
Một cánh rừng có thể tạo ra giá trị từ gỗ, dược liệu, mật ong, lâm sản ngoài gỗ, du lịch sinh thái, carbon và dịch vụ môi trường rừng. Rừng ngập mặn vừa bảo vệ bờ biển, vừa tạo sinh kế thủy sản, hấp thụ carbon và duy trì đa dạng sinh học.
Do đó, cần nghiên cứu xây dựng hệ thống tài khoản vốn tự nhiên, từng bước lượng hóa giá trị của rừng, biển, đất ngập nước và đa dạng sinh học trong các quyết định phát triển.
Từ đó có thể mở rộng các ngành kinh tế mới như dược liệu dưới tán rừng, mật ong, chăn nuôi sinh thái, du lịch cộng đồng, tín chỉ carbon và lâm sản ngoài gỗ.
Sức mạnh nằm ở sự liên kết
Bốn động lực trên không thể phát triển tách rời.
Công nghiệp công nghệ cao cần logistics, năng lượng sạch và dữ liệu. Kinh tế biển cần công nghệ và công nghiệp chế biến. Kinh tế số phải xuyên suốt mọi lĩnh vực. Kinh tế sinh thái cần khoa học, công nghệ và nguồn lực tài chính xanh.
Ở giữa các động lực ấy là thể chế, doanh nghiệp và con người.
Một cảng biển phải tạo ra cả hệ sinh thái logistics và công nghiệp. Một tuyến giao thông phải mở ra thị trường mới. Một khu rừng phải vừa được bảo vệ, vừa tạo sinh kế bền vững. Một hệ thống dữ liệu phải giúp chính quyền ra quyết định nhanh và chính xác hơn.
Đó là tư duy liên kết nguồn lực để tạo giá trị mới.
Tăng trưởng phải được đo bằng chất lượng
Mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân 12%/năm giai đoạn 2026-2030 là một thách thức lớn. Nhưng tốc độ tăng trưởng không thể là thước đo duy nhất.
Quảng Ninh cần từng bước xây dựng một bộ chỉ số phát triển mới, bên cạnh GRDP, trong đó quan tâm đến năng suất lao động, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, chất lượng môi trường, giá trị vốn tự nhiên, chất lượng dịch vụ công và mức độ hài lòng của người dân.
Một nền kinh tế phát triển bền vững phải tạo ra nhiều giá trị hơn với ít tài nguyên hơn, phát thải thấp hơn, năng suất cao hơn và đời sống người dân tốt hơn.
Đó là sự chuyển đổi từ “tăng trưởng bằng mọi giá” sang “tăng trưởng có chất lượng”.
Kiến tạo lợi thế cạnh tranh từ chính những lợi thế của mình
Quảng Ninh không thiếu tiềm năng. Điều quyết định là khả năng tổ chức và chuyển hóa những tiềm năng ấy thành năng lực cạnh tranh.
Biển phải trở thành kinh tế biển; rừng trở thành kinh tế sinh thái; dữ liệu trở thành tài nguyên mới; khoa học trở thành năng suất; doanh nghiệp trở thành chủ thể tạo giá trị và thể chế trở thành lợi thế cạnh tranh.
Đó là yêu cầu có tính chiến lược khi Quảng Ninh bước vào vị thế thành phố trực thuộc Trung ương.
Bởi thành phố mới không thể chỉ được xây dựng bằng những công trình mới. Thành phố mới trước hết phải được xây dựng bằng một mô hình tăng trưởng mới, một phương thức quản trị mới và một năng lực cạnh tranh mới.
Nếu Bài 1 đặt vấn đề về dấu mốc lịch sử và không gian phát triển mới, Bài 2 làm rõ những điều kiện “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, thì Bài 3 tập trung vào câu hỏi cốt lõi của chu kỳ phát triển mới: Quảng Ninh sẽ tăng trưởng bằng gì và tạo ra giá trị mới từ đâu?
Câu trả lời nằm ở khả năng biến lợi thế sẵn có thành lợi thế cạnh tranh, biến nguồn lực thành động lực và biến khát vọng phát triển thành năng lực thực tế của một thành phố trực thuộc Trung ương trong kỷ nguyên mới./.
Tin mới
Tin bài khác
Liên minh HTX Việt Nam đổi mới để dẫn dắt khu vực kinh tế tập thể
Hà Nội miễn phí tham quan di tích, danh thắng trong ngày Quốc khánh 2/9
Đặc sản ba miền hội tụ tại chợ lớn nhất Hà Tĩnh
Nghề nón trăm năm ở Vĩnh Thịnh: Giữ nghề để có thêm thu nhập
Nghề đan quạt nan – Nét đẹp nghề thủ công truyền thống ở thôn Chiền (Hà Nội)
Về Quảng Trị, ghé ngôi nhà nơi cây cảnh và cổ vật kể chuyện thời gian
Lê Sinh - Người khai mở thú chơi đá cảnh ở Quảng Trị
Giữ tiếng Then, nghề xưa giữa dòng chảy du lịch cộng đồng Hữu Liên
Về làng Vân say men nồng hương rượu nếp
Người phụ nữ U70 giữ lửa đam mê duối đá ở Phú Thọ
Biến nhà rông thành sản phẩm lưu niệm, nghệ nhân 75 tuổi giữ nghề cha ông
Hơn 300 năm, nghề làm nón ngựa Phú Gia vẫn được người đàn ông 80 tuổi gìn giữ
Lê Duy Hùng - người kể chuyện làng quê Bắc Bộ bằng những tiểu cảnh
Đà Nẵng mở rộng không gian đô thị: Nối những mạch sống, dệt mảng xanh bền vững
Kỹ thuật xử lý chôm chôm ra hoa trái vụ, chủ động thời điểm thu hoạch
Theo phong thủy, đây là 4 loại cây nên tránh trồng trong nhà, gia chủ cần lưu ý
Không vốn, trai làng Huế nhặt mầm hoa bỏ đi rồi gây dựng vườn súng 7ha
Cục Hải quan hướng dẫn thủ tục xuất nhập khẩu cây cảnh, thú cưng và bò sát
Bưởi Phúc Trạch mất mùa, nhà vườn vẫn kỳ vọng vụ thu hoạch khả quan
5 loại cây cảnh vừa đẹp nhà vừa an toàn cho gia đình có trẻ nhỏ
23 thông báo SPS trong nửa tháng: Nông sản Việt cần “đọc luật” trước khi xuất hàng
Phát triển sen Việt: Cần một hệ sinh thái liên kết
Đàn cừu “kéo” khách về trang trại, mở hướng làm du lịch từ nông nghiệp
Chăn vịt ở Phong Nha, trải nghiệm độc - lạ khiến du khách thích thú
“Cú liều” với nho sữa giúp người đàn ông Hà Nội đổi đời
Nữ nông dân Hà Nội bỏ nghề "hái ra tiền", về quê trồng rau má bằng công nghệ cao
Dấu xưa thú chơi cây cảnh trong cung đình triều Nguyễn
119 năm ngày mất Đào Tấn – Người đưa nghệ thuật Tuồng lên đỉnh cao
Đặc sản chợ đêm Cửa Lò bán theo mớ, hút khách trải nghiệm giữa lòng phố biển
Ninh Bình vào mùa hoa súng, cảnh sắc đẹp tựa tranh vẽ
Thái Nguyên: Điểm đến du lịch nông thôn tiêu biểu, nơi hội tụ sinh thái, nông nghiệp và trải nghiệm
Đặc sản ba miền hội tụ tại chợ lớn nhất Hà Tĩnh
Về Quảng Trị, ghé ngôi nhà nơi cây cảnh và cổ vật kể chuyện thời gian
Một năm nhìn lại: Dấu ấn CLB Sinh vật cảnh Thường Tín
CLB Truyền thông Việt Nam hương sắc thăm, giao lưu tại vườn cảnh của nghệ nhân Nguyễn Tiến Ngữ
