Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước và cuộc đời gìn giữ hồn tranh làng Sình
Trải qua nhiều biến động lịch sử, có lúc tưởng chừng biến mất, tranh làng Sình vẫn âm thầm tồn tại như một mạch nguồn văn hóa bền bỉ trong đời sống người dân xứ Huế.
Dòng tranh dân gian gắn với tín ngưỡng cộng đồng
Trong căn nhà nhỏ luôn tấp nập du khách đến tham quan, nghệ nhân Kỳ Hữu Phước (79 tuổi) - người được xem là "linh hồn" của tranh làng Sình - vẫn miệt mài giới thiệu về nghề truyền thống mà gia đình ông đã gìn giữ suốt 9 thế hệ.
![]() |
| Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước (79 tuổi) - người được xem là "linh hồn" của tranh làng Sình. Ảnh: Hải Âu – TTXVN |
Theo những tư liệu gia phả và thư tịch cổ mà ông dày công nghiên cứu, tranh làng Sình có nguồn gốc từ dòng tranh dân gian Đông Hồ. Cách đây hơn 400 năm, tổ tiên dòng họ Kỳ đã mang nghề làm tranh từ miền Bắc vào vùng đất Thuận Hóa, rồi dần thích nghi với đời sống văn hóa, tín ngưỡng của cư dân bản địa để hình thành nên một dòng tranh mang bản sắc riêng.
Khác với tranh Đông Hồ chủ yếu phục vụ nhu cầu trang trí, tranh làng Sình ban đầu được sáng tác nhằm phục vụ đời sống tâm linh. Người dân sử dụng tranh trong các lễ cầu an, cầu phúc, giải hạn, cúng tế hay các nghi thức tín ngưỡng dân gian. Sau khi hoàn thành nghi lễ, tranh thường được hóa đi như một cách gửi gắm những ước nguyện đến thần linh.
Chính vì vậy, mỗi bức tranh không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn chứa đựng niềm tin, khát vọng về cuộc sống bình an, no đủ của người dân vùng đất cố đô.
Kỳ công tạo nên những sắc màu dân gian
Để làm ra một bức tranh làng Sình theo phương pháp truyền thống, người nghệ nhân phải trải qua nhiều công đoạn công phu.
![]() |
| Mỗi gam màu đều mang sắc thái riêng, tạo nên vẻ đẹp mộc mạc nhưng giàu sức sống cho tranh làng Sình. |
Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước cho biết ngày trước, việc tìm nguyên liệu làm màu hoàn toàn dựa vào thiên nhiên. Các nghệ nhân phải lên tận những khu rừng thuộc dãy Bạch Mã để tìm cây vang lấy màu đỏ, lặn lội đến những khe núi sâu tìm cây dành tạo màu xanh lục. Màu vàng được chiết xuất từ lá cây đung, màu tím từ quả mồng tơi, còn màu cam được tạo nên từ gạch ngói cổ nghiền nhỏ.
Mỗi gam màu đều mang sắc thái riêng, tạo nên vẻ đẹp mộc mạc nhưng giàu sức sống cho tranh làng Sình.
Không chỉ màu sắc, việc chế tác mộc bản cũng đòi hỏi sự tỉ mỉ và kinh nghiệm lâu năm. Tổ tiên các nghệ nhân phải tìm những loại gỗ tốt như gỗ lòng mứt hay gỗ thị để khắc khuôn in. Từng đường nét trên ván gỗ được thực hiện bằng phương pháp khắc ngược, đòi hỏi độ chính xác gần như tuyệt đối.
Giấy dùng để in tranh trước đây chủ yếu là giấy dó truyền thống. Trải qua thời gian, vật liệu có nhiều thay đổi nhưng kỹ thuật in thủ công và tinh thần của dòng tranh vẫn được gìn giữ.
Những năm tháng tưởng chừng thất truyền
Nhắc lại giai đoạn khó khăn nhất của nghề, nghệ nhân Kỳ Hữu Phước vẫn không giấu được xúc động.
Sau năm 1975, trong bối cảnh đất nước còn nhiều thiếu thốn, tranh làng Sình bị xem là sản phẩm lãng phí vì làm bằng giấy, sử dụng trong nghi lễ rồi đem đốt. Nghề làm tranh bị ngừng hoạt động, nhiều dụng cụ sản xuất bị thu giữ.
Trong hoàn cảnh ấy, ông Phước âm thầm tìm cách bảo vệ những gì còn lại của nghề tổ.
"Tôi mang những dụng cụ cũ không còn sử dụng được về nhà để người ta tịch thu. Còn toàn bộ khuôn in và đồ nghề thật thì bọc kín bằng ni lông rồi chôn xuống đất để giữ lại", ông nhớ lại.
Nhiều người trong làng khi ấy cho rằng ông quá cố chấp khi cố gìn giữ một nghề đã không còn đất sống. Nhưng với ông, đó là cách duy nhất để bảo tồn một phần di sản của cha ông.
![]() |
| Tranh làng Sình là dòng tranh mộc bản truyền thống gắn liền với đời sống tín ngưỡng của người dân xứ Huế. |
Đến năm 1986, khi cuộc sống dần ổn định hơn, gia đình ông lặng lẽ đào những bộ khuôn in từ dưới đất lên và bắt đầu làm tranh trở lại. Cả gia đình cùng tham gia sản xuất để kiếm sống. Ông mang tranh đi bán khắp nơi, kiên trì gây dựng lại nghề trong điều kiện vô cùng khó khăn.
Từ tranh thờ đến sản phẩm văn hóa du lịch
Bước ngoặt lớn đến khi Huế bắt đầu tổ chức Festival nghề truyền thống và chú trọng bảo tồn các giá trị văn hóa bản địa. Khi ấy, nhiều người mới nhận ra gần như chỉ còn gia đình ông Kỳ Hữu Phước lưu giữ đầy đủ kỹ thuật làm tranh làng Sình.
Từ đó, dòng tranh dân gian từng đứng bên bờ mai một được phục hồi mạnh mẽ.
Không dừng lại ở các mẫu tranh tín ngưỡng truyền thống, nghệ nhân Kỳ Hữu Phước còn sáng tạo thêm nhiều chủ đề mới phản ánh đời sống văn hóa Huế.
![]() |
| Tranh Bát Âm: Tám bức tranh tượng trưng cho dàn nhạc cung đình, trang phục rực rỡ và tinh xảo. |
Sau khi thưởng thức Nhã nhạc cung đình tại Festival Huế năm 2002, ông đã sáng tác bộ tranh Bát Âm mô tả các nhạc công cung đình. Những lễ hội vật làng Sình, làng Thủ Lễ cũng được ông đưa vào tranh qua các bộ khuôn khắc mới.
Theo thời gian, tranh làng Sình ngày càng đa dạng với các chủ đề về trẻ em, gia đình, lễ Tết, 12 con giáp, nghề nông, chăn nuôi hay những ước vọng về cuộc sống sung túc, hạnh phúc.
Nhờ sự đổi mới ấy, tranh làng Sình không chỉ tồn tại trong không gian tín ngưỡng mà còn trở thành sản phẩm văn hóa, quà tặng du lịch được nhiều du khách trong và ngoài nước yêu thích.
Người "giữ lửa" cho di sản
Theo những người làm công tác văn hóa tại Huế, hành trình khôi phục tranh làng Sình sẽ khó thành công nếu không có sự kiên trì của nghệ nhân Kỳ Hữu Phước.
Từ một gia đình đơn độc gìn giữ nghề, đến nay kỹ thuật làm tranh đã được truyền dạy cho nhiều hộ dân trong làng. Mỗi dịp cuối năm, không khí sản xuất tranh lại trở nên nhộn nhịp, góp phần tạo sinh kế cho người dân địa phương.
Ngôi nhà của ông Phước hiện trở thành điểm đến quen thuộc trong nhiều tour du lịch trải nghiệm làng nghề. Tại đây, du khách được trực tiếp tìm hiểu lịch sử dòng tranh, tham gia in tranh và tô màu theo phương pháp truyền thống.
Năm 2014, nghệ nhân Kỳ Hữu Phước được vinh danh là Nhân tài Đất Việt. Tranh dân gian làng Sình cũng được công nhận là sản phẩm OCOP 3 sao cùng nhiều danh hiệu, chứng nhận giá trị văn hóa khác.
![]() |
| Nhà của nghệ nhân Kỳ Hữu Phước là một địa điểm ghé thăm quen thuộc của du khách khi đến làng Sình. |
Đối với người dân địa phương, ông không chỉ là nghệ nhân mà còn là người có công lớn nhất trong việc bảo tồn và hồi sinh dòng tranh dân gian từng đứng trước nguy cơ thất truyền. Bởi thế, nhiều người trìu mến gọi ông là "Phước công" - người giữ lửa cho một di sản văn hóa đặc sắc của đất Huế.
Hơn 400 năm đã trôi qua, từ những bức tranh phục vụ tín ngưỡng dân gian đến sản phẩm văn hóa được du khách khắp nơi yêu mến, tranh làng Sình vẫn đang tiếp tục hành trình của mình. Như dòng sông Hương lặng lẽ chảy qua bao thế hệ, dòng tranh dân gian ấy vẫn âm thầm lưu giữ hồn cốt văn hóa Huế trong từng nét khắc, gam màu và câu chuyện của người làm nghề.
Tin mới
Nghệ nhân Vương Quốc Hưng – gieo mầm nghệ thuật, lan tỏa giá trị nhân văn
Tùng đen và người nghệ nhân mang trong mình “chất cây”
Tin bài khác
Người thợ cuối cùng giữ hồn phỗng đất Kinh Bắc
"Bình An"- Khi một cái cây trở thành dấu ấn của một tư duy
Lê Sinh - Người khai mở thú chơi đá cảnh ở Quảng Trị
3 cây bonsai được người chơi lâu năm ưa chuộng, càng chăm lâu càng có giá trị
Đá A Lưới – nét đẹp riêng của đất Huế qua bộ sưu tập của nhà sưu tập Kha Nguyễn
Đam mê mãnh liệt – từ người tài xế đến nghệ nhân bonsai với hàng trăm tác phẩm giá trị
Tinh hoa làng nghề Việt: Từ giá trị truyền thống đến sức sống mới
"Rừng Tùng trên phiến gỗ" - Khi nghệ thuật Bonsai bước ra khỏi chiếc chậu
Nghệ nhân Vương Quốc Hưng – gieo mầm nghệ thuật, lan tỏa giá trị nhân văn
TS. Bùi Hữu Dược: Đam mê và nhân duyên
Hà Nội dự kiến tổ chức Festival làng nghề toàn cầu lần thứ nhất vào tháng 12
Khám phá 5 làng gốm nổi tiếng của Việt Nam
Làng điêu khắc Nhân Hiền: Giữ nghề để giữ hồn quê
Từ 5/10, người đăng tin giả có thể bị công khai danh tính, khóa tài khoản
Món xưa "cứu đói" nhà nghèo nay thành đặc sản giá 50.000 đồng/kg
Vì sao cá chim trắng được ví là “đệ nhất ngư”, dân sành ăn ưa chuộng?
CITES Việt Nam hướng dẫn các đơn vị xuất, nhập khẩu hoa lan lai tạo, nhân tạo
Loài hoa tím đẹp như chuỗi ngọc, trồng ban công vẫn nở rực rỡ
Thay đổi cách hiểu về bonsai từ góc nhìn cấu trúc nghệ thuật
Từ góc không gian xanh đến tương lai môi trường xanh
Để nông dân tự tin "chốt đơn": Bắt đầu từ những kỹ năng số cơ bản nhất
Không khí rộn ràng hội tụ về Triển lãm cây cảnh nghệ thuật Đông Anh năm 2026
Thực thi CITES đối với hoa lan: Từ kinh nghiệm quốc tế đến giải pháp quản lý theo rủi ro cho ngành hoa Việt Nam
Người trồng hoa hồng Đan Kia vất vả khắc phục vườn sau mưa lũ
Hà Nội tăng quản lý chó, mèo, duy trì tỷ lệ tiêm phòng dại trên 90%
Hội thi Bonsai & Suiseki Tây Ninh mở rộng – Nơi hội tụ nghệ thuật và những cuộc gặp gỡ đáng nhớ
Vì sao thịt bồ câu được coi là "thần dược" phục hồi sức khỏe cho người mới ốm dậy?
Bắc Ninh nâng tầm hai sản phẩm OCOP đặc hữu: Sâm Núi Dành và nấm lim xanh
Kháng nghị và đề xuất tháo gỡ vướng mắc về mã số cơ sở trồng cho doanh nghiệp hoa lan tại Lâm Đồng
Trang trại thỏ Hòa Hội – Hành trình 6 năm vượt khó, giữ nghề
Sanh già hội tụ trong ngày đầu nhận cây tại Triển lãm Đông Anh
Sen Đồng Tháp: Từ giá trị bản địa đến khát vọng dẫn dắt ngành sen Việt Nam
Đừng cắm hoa bàn thờ tùy tiện: Những lưu ý quan trọng để không làm mất đi sự trang nghiêm
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng: Điểm đến du lịch lý tưởng
Hà Nội nhận 2 giải thưởng tại Giải thưởng Du lịch Thế giới 2026
Vườn Kiều – Không gian gặp gỡ, lan tỏa giá trị văn hóa Nguyễn Du
Độc đáo vườn thú “Bách Điểu” giữa không gian sinh thái Hà Tĩnh
Đam mê sinh vật cảnh, gây dựng cơ nghiệp từ những gốc bonsai cổ thụ
Lão nông Hà Tĩnh được mệnh danh “vua” bonsai vùng đất địa linh nhân kiệt
Khai mạc Triển lãm Cây cảnh nghệ thuật Xứ Nghệ lần thứ I năm 2026




