Tín chỉ carbon rừng được định giá theo chi phí và chất lượng
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư số 31/2026/TT-BNNMT quy định phương pháp định giá rừng, hướng dẫn định khung giá rừng và phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng. Thông tư tạo căn cứ kỹ thuật để các dự án carbon rừng xác định mức giá trước khi đàm phán hợp đồng hoặc đưa tín chỉ lên sàn giao dịch carbon.
![]() |
| Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư số 31/2026/TT-BNNMT quy định phương pháp định giá rừng, hướng dẫn định khung giá rừng và phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng. |
Theo quy định mới, mức chi trả đối với tín chỉ carbon rừng không chỉ được xem xét từ chi phí tạo lập dự án mà còn được xác định trên cơ sở giá giao dịch của các dự án tương đồng. Cùng với đó, chất lượng rừng, thời gian duy trì dự án, tiêu chuẩn carbon áp dụng và khả năng cung ứng tín chỉ cũng trở thành những yếu tố quan trọng hình thành giá trị.
Hai phương pháp xác định giá tín chỉ carbon rừng
Theo Thông tư số 31/2026/TT-BNNMT, mức chi trả để đàm phán hợp đồng hoặc đưa lên sàn giao dịch carbon được xác định bằng hai phương pháp là “chi phí” và “so sánh”. Sau khi tính toán, mức cao hơn sẽ được sử dụng làm cơ sở đàm phán hợp đồng hoặc đưa lên sàn giao dịch.
Với phương pháp chi phí, đơn vị xây dựng dự án phải thu thập, tổng hợp thông tin về chi phí thực tế xây dựng, đăng ký, đo đạc, báo cáo, thẩm định, cấp tín chỉ của kỳ báo cáo đã hoàn thành; đồng thời ước tính chi phí đo đạc, báo cáo, thẩm định, cấp tín chỉ của các kỳ tiếp theo và chi phí liên quan đến trao đổi, chuyển nhượng tín chỉ carbon rừng của dự án cần xác định mức chi trả.
Các khoản chi phí liên quan bao gồm chi phí xây dựng và đăng ký dự án; đo đạc, báo cáo, thẩm định kết quả giảm phát thải; cấp tín chỉ; trao đổi, chuyển nhượng và các khoản thuế, phí liên quan.
Quy định cũng tính chi phí hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng và sinh kế. Khoản này được xác định tối đa bằng 15% kinh phí bảo vệ rừng do Nhà nước cấp trong thời gian thực hiện dự án dựa trên diện tích rừng, mức hỗ trợ mỗi ha và số năm triển khai.
Đặc biệt, dự án phải xác định lượng tín chỉ thực sự có thể cung ứng, dựa trên kết quả giảm phát thải đã được thẩm định, đã được cấp và lượng dự kiến của các kỳ tiếp theo. Đây là yếu tố quan trọng bởi giá trị của dự án không chỉ phụ thuộc vào tổng chi phí bỏ ra mà còn gắn với lượng tín chỉ có khả năng hình thành và đưa ra thị trường.
Trong khi đó, theo phương pháp so sánh, dự án phải lựa chọn ít nhất 3 dự án carbon rừng khác làm tham chiếu, với điều kiện đã có giao dịch trong nước hoặc quốc tế trong vòng 24 tháng gần nhất.
Trường hợp giá tín chỉ carbon rừng thu thập được có đơn vị tính giá là ngoại tệ thì quy đổi thành đồng Việt Nam theo tỷ giá trung tâm đối với USD hoặc tỷ giá tính thuế do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm xác định mức chi trả.
Đối với dự án carbon rừng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân không có giao dịch trong thời gian 12 tháng liên tục, cơ quan, tổ chức xây dựng dự án carbon rừng có trách nhiệm điều chỉnh mức chi trả theo giá tín chỉ carbon rừng bình quân của 3 dự án carbon rừng đã giao dịch gần nhất với thời điểm điều chỉnh mức chi trả.
Cơ chế này giúp mức giá có khả năng được cập nhật theo diễn biến thị trường, hạn chế tình trạng sử dụng một mức giá cố định trong thời gian dài khi điều kiện giao dịch đã thay đổi.
Chất lượng tạo khác biệt về giá trị
Nếu phương pháp chi phí phản ánh nguồn lực cần thiết để tạo ra tín chỉ, còn phương pháp so sánh phản ánh mặt bằng giao dịch, thì chất lượng là yếu tố tạo nên sự khác biệt về giá trị giữa các tín chỉ carbon rừng.
Theo Thông tư số 31/2026/TT-BNNMT, các dự án rừng tự nhiên, rừng ngập mặn, phục hồi đất thoái hóa hoặc rừng trồng có tỷ lệ cây bản địa cao, thời gian duy trì dài được xếp thành 2 nhóm.
Trong đó, nhóm thứ nhất phải đảm bảo trên 70% là cây bản địa và có thời gian duy trì dự án từ 20 năm trở lên.
Nhóm thứ hai là dự án carbon rừng thực hiện ở khu vực rừng tự nhiên hoặc rừng ngập mặn hoặc đất thoái hóa với thời gian duy trì dự án từ 10 đến dưới 20 năm; hoặc thực hiện khu vực rừng trồng hoặc nông lâm kết hợp và cây phân tán với loài cây trồng có dưới 70% là cây bản địa và thời gian duy trì dự án từ 10 đến dưới 20 năm.
Đối với dự án carbon rừng thực hiện theo tiêu chuẩn carbon rừng quốc tế, tín chỉ đạt chuẩn toàn vẹn carbon hoặc đủ điều kiện sử dụng trong cơ chế bù đắp phát thải hàng không quốc tế cũng sẽ phải đánh giá cao hơn.
Những quy định này cho thấy giá trị tín chỉ carbon rừng ngày càng gắn với chất lượng tài sản carbon. Một dự án có thời gian duy trì dài, tỷ lệ cây bản địa cao, khả năng chứng minh kết quả giảm phát thải và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế sẽ có nhiều lợi thế hơn khi tiếp cận thị trường.
Thực tế trên thị trường carbon quốc tế cũng cho thấy tín chỉ carbon không phải một loại hàng hóa đồng nhất có thể thay thế hoàn toàn cho nhau. Mỗi tín chỉ đại diện cho một phương thức giảm thiểu hoặc loại bỏ phát thải riêng biệt, gắn liền với vị trí địa lý, thời điểm phát sinh và mức độ toàn vẹn môi trường khác nhau.
Theo dữ liệu từ MSCI Global Carbon Credit Price Index, mức giá trung bình của thị trường tự nguyện trong năm 2025 đạt 3,5 USD/tín chỉ, giảm so với mức 4,30 USD của năm 2024. Tuy nhiên, các tín chỉ được xếp hạng chất lượng từ BBB trở lên lại ghi nhận mức giá trung bình 6,8 USD/tín chỉ. Điều này cho thấy người mua sẵn sàng trả cao hơn cho những tài sản có chất lượng vượt trội.
Biên độ giao dịch thực tế thậm chí còn mở rộng hơn rất nhiều. Nhiều tín chỉ tự nguyện truyền thống chỉ dao động dưới 1 USD đến gần 50 USD/tín chỉ. Ngược lại, các tín chỉ loại bỏ carbon bằng giải pháp công nghệ cao có thể được bán với giá vượt mốc 1.000 USD/tín chỉ.
Bên cạnh thị trường tự nguyện, thị trường carbon tuân thủ gồm ETS và thuế carbon lại vận hành theo cơ chế pháp lý riêng biệt. Dữ liệu từ Ngân hàng Thế giới cho thấy giá carbon trực tiếp trung bình toàn cầu đạt gần 21 USD/tín chỉ trong năm 2026.
Đáng chú ý, dữ liệu từ hơn 80 hệ thống ETS và thuế carbon của Ngân hàng Thế giới cho thấy mức giá giữa các khu vực pháp lý phân hóa cực lớn, dao động từ khoảng 0,11 USD đến gần 170 USD/tín chỉ. Các mức giá không thể so sánh trực tiếp do sự khác biệt về phạm vi áp dụng phát thải, yêu cầu tuân thủ và cơ chế bù trừ tại từng khu vực.
Thị trường carbon chuyển từ “giá rẻ” sang “giá trị thực”
Yếu tố tiên quyết chi phối giá thành chính là phương pháp tạo ra tín chỉ. Thị trường hiện phân định rõ hai nhóm: tránh/giảm phát thải và loại bỏ carbon trực tiếp.
Các dự án tránh phát thải quen thuộc như năng lượng tái tạo, thu hồi khí methane hay bếp sạch thường có chi phí thấp hơn. Trong khi đó, các dự án loại bỏ carbon khỏi khí quyển, từ phục hồi rừng, than sinh học (biochar) cho đến công nghệ thu giữ trực tiếp từ không khí (DAC), lại đòi hỏi nguồn vốn đầu tư, năng lượng và công nghệ rất lớn. Chính chi phí kỹ thuật cao này khiến tín chỉ DAC có thể chạm mức nghìn USD, vượt xa tín chỉ giảm phát thải thông thường.
Song song với loại hình, chất lượng tín chỉ đang trở thành biến số phân hóa giá mạnh mẽ. Người mua không còn đánh đồng mọi tín chỉ mà thẩm định chặt chẽ các tiêu chí như tính bổ sung (Additionality), tính lâu dài (Permanence), đo lường và xác minh (Measurement & Verification), rủi ro rò rỉ và tính trùng lặp (Leakage & Double counting).
Tính bổ sung đặt ra câu hỏi dự án có thực sự cần nguồn thu từ tín chỉ carbon để triển khai hay không. Tính lâu dài xem xét carbon được cô lập và lưu giữ trong bao lâu. Đo lường và xác minh đánh giá mức độ chính xác của khối lượng carbon được đo lường và việc kết quả đã được đơn vị độc lập đánh giá hay chưa.
Trong khi đó, rủi ro rò rỉ và tính trùng lặp nhằm xác định dự án có đẩy phát thải sang nơi khác hoặc kết quả giảm phát thải có bị ghi nhận hai lần hay không.
Vị trí địa lý và năm phát sinh tín chỉ (vintage) cũng là những biến số tài chính cần cân nhắc. Mỗi khu vực mang lại khung chi phí, rủi ro pháp lý và giá trị cộng hưởng khác nhau.
Một dự án bảo vệ rừng không chỉ hấp thụ CO₂ mà còn hỗ trợ cộng đồng bản địa và đa dạng sinh học. Những lợi ích bổ sung này gia tăng sức hút đối với doanh nghiệp có mục tiêu phát triển bền vững toàn diện, từ đó nâng đỡ giá trị tín chỉ.
Đối với vintage - năm mà hoạt động giảm hoặc loại bỏ carbon diễn ra - thị trường thường dành sự ưu tiên cho các tín chỉ mới phát hành. Các tín chỉ thuộc vintage cũ thường bị chiết khấu giá, dù chất lượng nội tại của dự án vẫn là yếu tố mang tính quyết định.
Tuy vậy, mức giá đắt đỏ chưa hẳn là tấm vé bảo chứng cho một tín chỉ hoàn hảo. Giá cả là tín hiệu tham khảo quan trọng nhưng không thể thay thế cho quy trình thẩm định phương pháp luận và tính toàn vẹn khí hậu thực tế của từng dự án.
Các yêu cầu kỹ thuật tại Thông tư số 31/2026/TT-BNNMT vì vậy có ý nghĩa không chỉ đối với việc xác định mức chi trả mà còn đối với quá trình hình thành thị trường tín chỉ carbon rừng minh bạch hơn. Doanh nghiệp, người dân và các chủ thể tham gia dự án có thêm căn cứ để xây dựng phương án tài chính, xác định lượng tín chỉ có thể cung ứng và đàm phán với đối tác.
Khi thị trường bước vào giai đoạn thanh lọc, tư duy tìm kiếm “tín chỉ giá rẻ nhất” đang dần nhường chỗ cho cuộc đua sở hữu những tài sản carbon minh bạch, có tác động thực và giá trị bền vững lâu dài. Với các dự án carbon rừng, chất lượng rừng, khả năng lưu giữ carbon, tính minh bạch trong đo đạc và xác minh cùng những giá trị môi trường, xã hội đi kèm sẽ ngày càng trở thành nền tảng quyết định sức cạnh tranh của tín chỉ trên thị trường.
Xem và tải Thông tư số 31/2026/TT-BNNMT tại đây
Tin bài khác
Khu vườn trên mây 80m² của người mẹ 3 con tại Cần Thơ
Hơn 300 tác phẩm cây cảnh nghệ thuật hội tụ tại triển lãm Xứ Nghệ dịp Quốc khánh 2/9
"Một dải non sông" và những tác phẩm bonsai đượm màu thời gian tại Quảng Trị
Đèn lồng Uyên Ương kể chuyện văn hóa Hoa Lư
Làng kèn Phạm Pháo: Nơi những thanh âm trăm năm vẫn vang vọng
Làng phở Vân Cù – Nơi lưu giữ hồn phở Việt qua hơn một thế kỷ
Không gian sống bằng đá giữa rừng của ông Đặng Lê Nguyên Vũ
Nghề nón trăm năm ở Vĩnh Thịnh: Giữ nghề để có thêm thu nhập
Nghề đan quạt nan – Nét đẹp nghề thủ công truyền thống ở thôn Chiền (Hà Nội)
Về Quảng Trị, ghé ngôi nhà nơi cây cảnh và cổ vật kể chuyện thời gian
Lê Sinh - Người khai mở thú chơi đá cảnh ở Quảng Trị
Giữ tiếng Then, nghề xưa giữa dòng chảy du lịch cộng đồng Hữu Liên
Khuyến nông Sơn La: "Đòn bẩy" giúp ngư dân lòng hồ làm giàu từ cá lồng
Thể chế kiến tạo – “lợi thế cạnh tranh” mới của Quảng Ninh
Hướng dẫn nhân giống trầu bà không cần đất
Con người Quảng Ninh – nền tảng kiến tạo năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên mới
Nông sản Lạng Sơn tìm hướng bứt phá bằng chuyển đổi số
Loại quả xưa chẳng ai để ý nay được chuộng, giá cao vẫn có người mua
Thể chế – hạ tầng – nhân lực: Ba nền tảng để Quảng Ninh bứt phá trong chu kỳ phát triển mới
3 loại cây cảnh vừa đẹp vừa ăn được, cực hợp trồng ở ban công
Quảng Ninh – Thành phố của cơ hội và công bằng xã hội
Dấu ấn Câu lạc bộ Sinh vật cảnh Xuân Lý tại Triển lãm Gia Lai mở rộng 2026
Từ quyền tự quyết đến vận mệnh mới của đất nước
Quảng Ninh: Từ những cực tăng trưởng đến một thành phố - vùng đa trung tâm
Hơn 300 tác phẩm cây cảnh nghệ thuật hội tụ tại triển lãm Xứ Nghệ dịp Quốc khánh 2/9
Đến Cao Bằng thử món thạch đặc biệt làm từ hạt một loại quả rừng
Khu vườn trên mây 80m² của người mẹ 3 con tại Cần Thơ
Nuôi ốc bươu đen, chủ động từ con giống đến đầu ra
Tạo điểm nhấn cho lối đi sân vườn với 5 loại cây quen thuộc
Tận dụng phù du tự nhiên, nuôi hàu cho hiệu quả kinh tế cao
Đến Hạnh Phúc để được hạnh phúc
Điệp Sơn: Tuyệt tác "đường đi giữa biển" độc nhất vô nhị ở Khánh Hòa
Vườn cây ở Chùa Từ Tôn – màu xanh kỳ công giữa biển trời Hòn Đỏ, Nha Trang
Săn mùa vàng giữa cánh đồng điện gió Đầm Nại
Mô hình cà phê giữa ruộng lúa: Hướng đi mới cho kinh tế sinh thái nông thôn
Khai mạc Triển lãm Cây cảnh nghệ thuật Xứ Nghệ lần thứ I năm 2026
Việt Nam - Nơi hội tụ nghệ thuật Bonsai & Suiseki
Hội Sinh vật cảnh và Làm vườn Quảng Ninh sẵn sàng cho Triển lãm, dự thi Bonsai nghệ thuật năm 2026
Đặc sản ba miền hội tụ tại chợ lớn nhất Hà Tĩnh
