Thể chế kiến tạo – “lợi thế cạnh tranh” mới của Quảng Ninh
Quảng Ninh bước vào chu kỳ phát triển mới với một nền tảng kinh tế, hạ tầng và vị thế ngày càng lớn. Nhưng khi quy mô phát triển càng cao, yêu cầu về chất lượng quản trị càng trở nên quyết định. Trong cạnh tranh giữa các địa phương, tài nguyên có thể tương đồng, vị trí có thể được khai thác tương tự, nhưng thể chế thông thoáng, chính quyền hiệu quả và khả năng biến quyết sách thành kết quả mới là lợi thế khó sao chép. Với Quảng Ninh, xây dựng một nền quản trị hiện đại, kiến tạo và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phải trở thành một động lực phát triển quan trọng trong giai đoạn mới.
![]() |
| Cán bộ Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Quảng Ninh hướng dẫn, giải quyết thủ tục cho người dân. Cải cách hành chính được Quảng Ninh hướng tới mục tiêu giảm thời gian, chi phí và nâng cao chất lượng phục vụ. Ảnh: Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh. |
Khi thể chế trở thành một nguồn lực phát triển
Trong một thời gian dài, lợi thế của Quảng Ninh thường được nhìn nhận từ vị trí địa lý, tài nguyên, biển đảo, di sản, cửa khẩu, cảng biển hay hệ thống hạ tầng. Nhưng trong một nền kinh tế hiện đại, còn một loại tài sản vô hình có giá trị đặc biệt: năng lực thể chế.
Một nhà đầu tư có thể lựa chọn nhiều địa phương để xây dựng nhà máy. Một doanh nghiệp logistics có thể lựa chọn nhiều cảng biển. Một du khách quốc tế có thể lựa chọn nhiều điểm đến. Một chuyên gia công nghệ có thể lựa chọn nhiều thành phố để làm việc.
Vì vậy, câu hỏi cạnh tranh không chỉ là Quảng Ninh có gì, mà còn là: Quảng Ninh giải quyết công việc nhanh đến đâu? Chi phí gia nhập thị trường thấp đến mức nào? Chính sách có ổn định không? Dữ liệu có minh bạch không? Chính quyền có đồng hành với doanh nghiệp không? Và người dân có thực sự cảm nhận được chất lượng của nền hành chính mới? Đó chính là những câu hỏi của một thành phố trực thuộc Trung ương trong giai đoạn phát triển mới.
Quảng Ninh đã có những nền tảng đáng kể. Năm 2025, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 368.445 tỷ đồng; tổng thu ngân sách nhà nước đạt khoảng 84.500 tỷ đồng; tổng vốn đầu tư trong nước ngoài ngân sách đạt khoảng 480.000 tỷ đồng, gấp gần 16 lần năm trước. Những con số ấy cho thấy năng lực huy động nguồn lực của địa phương đã ở một quy mô lớn.
Nhưng quy mô nguồn lực càng lớn thì mỗi quyết định sai, mỗi thủ tục chậm, mỗi quy hoạch thiếu đồng bộ cũng tạo ra chi phí xã hội lớn hơn. Bởi vậy, cải cách thể chế không còn là nhiệm vụ hỗ trợ phát triển. Nó phải trở thành một bộ phận trực tiếp của chiến lược tăng trưởng.
Từ cải cách hành chính đến quản trị phát triển
Quảng Ninh đã có kinh nghiệm nhiều năm trong cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư và đồng hành cùng doanh nghiệp. Bước vào giai đoạn mới, yêu cầu cần được nâng lên một cấp độ khác: từ cải cách thủ tục sang cải cách phương thức quản trị. Điều này càng có ý nghĩa khi Quảng Ninh đã chuyển sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, tổ chức lại không gian quản lý với 54 đơn vị hành chính cấp xã.
Một bộ máy tinh gọn hơn phải đồng nghĩa với một chính quyền gần dân hơn, quyết định nhanh hơn và chịu trách nhiệm rõ hơn. Đây không đơn thuần là câu chuyện tổ chức bộ máy. Đó là cơ hội để thiết kế lại toàn bộ quy trình quản trị theo nguyên tắc: Một dữ liệu – một quy trình – một đầu mối – một trách nhiệm – một kết quả. Người dân không cần biết hồ sơ của mình đi qua bao nhiêu cơ quan. Doanh nghiệp không cần phải hiểu hết cấu trúc bên trong của bộ máy hành chính. Điều họ cần là một chính quyền giải quyết công việc minh bạch, đúng hạn và có trách nhiệm.
Đó phải là thước đo quan trọng của chính quyền thành phố Quảng Ninh trong tương lai.
Không để “chi phí thể chế” trở thành chi phí phát triển
Trong cạnh tranh thu hút đầu tư hiện nay, nhà đầu tư không chỉ tính giá đất, giá điện, chi phí logistics hay tiền lương. Họ còn tính một loại chi phí khác: chi phí thời gian và chi phí thủ tục. Một dự án chậm triển khai một năm có thể làm mất cơ hội thị trường. Một thủ tục phải đi lại nhiều lần làm tăng chi phí. Một quy hoạch thiếu đồng bộ có thể khiến doanh nghiệp không thể triển khai dự án đúng tiến độ.
Do đó, Quảng Ninh cần tiến tới một mô hình “chính quyền không tạo thêm chi phí giao dịch cho nền kinh tế”.
Muốn vậy, cần tiếp tục số hóa toàn bộ chu trình đầu tư, từ tiếp cận thông tin quy hoạch, đất đai, môi trường đến cấp phép, triển khai và giám sát dự án. Đặc biệt, cần xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung về quy hoạch, đất đai, hạ tầng, môi trường, dân cư và doanh nghiệp; từng bước để người dân, doanh nghiệp có thể tra cứu trước – quyết định trước – thực hiện trước, thay vì phải hỏi từng cơ quan.
Đây cũng là tinh thần phù hợp với Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, trong đó xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại và đổi mới phương thức quản trị.
Thể chế phải đi trước những ngành kinh tế mới
Một nền quản trị tốt không chỉ giải quyết những vấn đề đang tồn tại. Quan trọng hơn, nó phải mở đường cho những mô hình kinh doanh mới. Khi Quảng Ninh phát triển kinh tế biển, sẽ xuất hiện những vấn đề mới về không gian mặt nước, nuôi biển công nghệ cao, logistics lạnh, chế biến sâu, bảo tồn biển. Khi phát triển kinh tế số, sẽ xuất hiện nhu cầu về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, nền tảng số, giao dịch điện tử và các mô hình kinh doanh chưa có tiền lệ. Khi phát triển kinh tế sinh thái, sẽ xuất hiện những thị trường mới như tín chỉ carbon, dịch vụ hệ sinh thái, du lịch sinh thái, dược liệu dưới tán rừng. Nếu thể chế luôn đi sau thực tiễn, cơ hội sẽ bị bỏ lỡ. Vì vậy, Quảng Ninh cần mạnh dạn nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với những mô hình mới; đồng thời tăng cường đặt hàng doanh nghiệp, nhà khoa học giải quyết những bài toán cụ thể của địa phương.
Tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW cũng đặt yêu cầu phải hoàn thiện thể chế, xóa bỏ những rào cản cản trở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời coi thể chế là một lợi thế cạnh tranh.
Đây là tư duy mà Quảng Ninh có thể chuyển hóa thành lợi thế riêng của mình.
Quản trị bằng dữ liệu, quyết định bằng bằng chứng
Một thành phố - vùng có quy mô hơn 6.200 km², dân số hơn 1,5 triệu người và cấu trúc phát triển trải rộng từ đô thị, biển đảo, miền núi đến biên giới không thể được điều hành hiệu quả chỉ bằng phương thức quản lý truyền thống.
Quảng Ninh cần tiến tới mô hình quản trị dựa trên dữ liệu và bằng chứng. Khi một khu vực có dấu hiệu quá tải du lịch, hệ thống phải cảnh báo. Khi môi trường biển có biến động bất thường, dữ liệu phải được cập nhật. Khi một khu công nghiệp phát sinh nguy cơ ô nhiễm, cơ quan quản lý phải nhận diện sớm. Khi giao thông có nguy cơ ùn tắc, chính quyền phải có khả năng dự báo.Khi một vùng nông thôn, miền núi có nguy cơ thiếu sinh kế, dữ liệu kinh tế - xã hội phải giúp nhận diện trước. Từ đó, chính quyền không chỉ phản ứng với vấn đề, mà có thể dự báo và phòng ngừa vấn đề. Đó là bước chuyển từ chính quyền điện tử sang chính quyền thông minh.
Doanh nghiệp phải được nhìn như đối tác phát triển
Mục tiêu của cải cách thể chế cuối cùng phải được phản ánh bằng năng lực phát triển của doanh nghiệp. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025-2030 đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân 12%/năm; kinh tế số chiếm 30% GRDP; kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 40-45% GRDP; mỗi năm thành lập mới khoảng 2.000 doanh nghiệp. Đây là những chỉ tiêu rất cao.
Nhưng cũng chính những mục tiêu ấy đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách nhìn về khu vực tư nhân. Doanh nghiệp không chỉ là đối tượng quản lý. Doanh nghiệp phải trở thành đối tác kiến tạo phát triển. Chính quyền cần chuyển mạnh từ tư duy “cho phép doanh nghiệp làm” sang “tạo điều kiện để doanh nghiệp làm tốt hơn”.
Mỗi chính sách lớn cần có đánh giá tác động đối với doanh nghiệp. Mỗi quy hoạch cần tính đến chi phí logistics và khả năng tiếp cận thị trường. Mỗi dự án công cần xem xét khả năng kéo theo đầu tư tư nhân. Mỗi cuộc đối thoại doanh nghiệp cần được kết thúc bằng đầu việc, thời hạn và người chịu trách nhiệm, thay vì chỉ dừng ở trao đổi. Khi niềm tin giữa chính quyền và doanh nghiệp được củng cố, nguồn lực xã hội sẽ được giải phóng.
Một chính quyền mạnh không phải là chính quyền làm nhiều
Trong giai đoạn mới, một chính quyền mạnh không nhất thiết là chính quyền trực tiếp làm nhiều việc. Chính quyền mạnh là chính quyền biết việc gì Nhà nước phải làm, việc gì thị trường có thể làm, việc gì xã hội có thể tham gia và việc gì cần Nhà nước kiến tạo.
Nhà nước tập trung vào quy hoạch, thể chế, hạ tầng chiến lược, an sinh xã hội, môi trường, quốc phòng - an ninh và những lĩnh vực thị trường không thể tự giải quyết. Doanh nghiệp phát huy vai trò đầu tư, sản xuất, kinh doanh và đổi mới sáng tạo. Người dân tham gia quản trị xã hội, giám sát và thụ hưởng thành quả phát triển. Các trường đại học, viện nghiên cứu trở thành nguồn cung tri thức. Các tổ chức xã hội, hiệp hội nghề nghiệp trở thành cầu nối giữa chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng.
Đó là hệ sinh thái quản trị phát triển, thay cho mô hình quản lý hành chính đơn tuyến.
Từ một chính quyền phục vụ đến một chính quyền kiến tạo
Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 80/QĐ-TTg ngày 11/2/2023 và Kế hoạch thực hiện quy hoạch được ban hành tại Quyết định số 1279/QĐ-TTg ngày 1/11/2023 đã tạo nền tảng quan trọng cho việc tổ chức không gian và huy động nguồn lực phát triển. Nhưng quy hoạch chỉ thực sự có giá trị khi được chuyển hóa thành những quyết định nhanh, đúng và nhất quán.
Bước vào giai đoạn thành phố trực thuộc Trung ương, Quảng Ninh cần hình thành một “chuẩn quản trị Quảng Ninh” với những yêu cầu rõ ràng: Quy hoạch phải minh bạch. Chính sách phải ổn định. Thủ tục phải đơn giản. Dữ liệu phải liên thông. Trách nhiệm phải cá thể hóa. Đầu tư công phải dẫn dắt đầu tư tư nhân. Đối thoại phải đi cùng hành động. Đánh giá cán bộ phải gắn với kết quả phát triển.
Nếu thực hiện được những nguyên tắc ấy, chính quyền sẽ không chỉ là bộ máy thực thi chính sách, mà trở thành một nguồn lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Lợi thế cuối cùng là niềm tin
Quảng Ninh đã có biển, có rừng, có di sản, có cửa khẩu, có cảng biển, có hạ tầng và một vị trí địa chiến lược đặc biệt. Nhưng những lợi thế ấy có thể được nhiều nơi học hỏi, cạnh tranh và thay thế.
Niềm tin thì khác. Niềm tin của doanh nghiệp vào chính sách. Niềm tin của người dân vào chính quyền. Niềm tin của nhà đầu tư vào môi trường kinh doanh. Niềm tin của người trẻ vào cơ hội lập nghiệp. Niềm tin của xã hội vào một tương lai phát triển công bằng và bền vững… Đó mới là thứ tài sản vô hình quyết định khả năng đi đường dài.
Năm 2025, Quảng Ninh đạt mức tăng trưởng GRDP 11,89%, cao nhất cả nước; năng suất lao động xã hội đạt khoảng 537 triệu đồng/người, tăng 11,6%. Những kết quả ấy cho thấy nền kinh tế đang tạo ra động lực mới. Nhưng giai đoạn tiếp theo sẽ khó khăn hơn.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đặt mục tiêu đến năm 2030 GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 20.000 USD, kinh tế số chiếm 30% GRDP, TFP đóng góp trên 55% và kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 40-45% GRDP.
Khi thể chế trở thành một nguồn lực phát triển
Trong một thời gian dài, lợi thế của Quảng Ninh thường được nhìn nhận từ vị trí địa lý, tài nguyên, biển đảo, di sản, cửa khẩu, cảng biển hay hệ thống hạ tầng. Nhưng trong một nền kinh tế hiện đại, còn một loại tài sản vô hình có giá trị đặc biệt: năng lực thể chế.
Một nhà đầu tư có thể lựa chọn nhiều địa phương để xây dựng nhà máy. Một doanh nghiệp logistics có thể lựa chọn nhiều cảng biển. Một du khách quốc tế có thể lựa chọn nhiều điểm đến. Một chuyên gia công nghệ có thể lựa chọn nhiều thành phố để làm việc.
Vì vậy, câu hỏi cạnh tranh không chỉ là Quảng Ninh có gì, mà còn là: Quảng Ninh giải quyết công việc nhanh đến đâu? Chi phí gia nhập thị trường thấp đến mức nào? Chính sách có ổn định không? Dữ liệu có minh bạch không? Chính quyền có đồng hành với doanh nghiệp không? Và người dân có thực sự cảm nhận được chất lượng của nền hành chính mới? Đó chính là những câu hỏi của một thành phố trực thuộc Trung ương trong giai đoạn phát triển mới.
Quảng Ninh đã có những nền tảng đáng kể. Năm 2025, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 368.445 tỷ đồng; tổng thu ngân sách nhà nước đạt khoảng 84.500 tỷ đồng; tổng vốn đầu tư trong nước ngoài ngân sách đạt khoảng 480.000 tỷ đồng, gấp gần 16 lần năm trước. Những con số ấy cho thấy năng lực huy động nguồn lực của địa phương đã ở một quy mô lớn.
Nhưng quy mô nguồn lực càng lớn thì mỗi quyết định sai, mỗi thủ tục chậm, mỗi quy hoạch thiếu đồng bộ cũng tạo ra chi phí xã hội lớn hơn. Bởi vậy, cải cách thể chế không còn là nhiệm vụ hỗ trợ phát triển. Nó phải trở thành một bộ phận trực tiếp của chiến lược tăng trưởng.
Từ cải cách hành chính đến quản trị phát triển
Quảng Ninh đã có kinh nghiệm nhiều năm trong cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư và đồng hành cùng doanh nghiệp. Bước vào giai đoạn mới, yêu cầu cần được nâng lên một cấp độ khác: từ cải cách thủ tục sang cải cách phương thức quản trị. Điều này càng có ý nghĩa khi Quảng Ninh đã chuyển sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, tổ chức lại không gian quản lý với 54 đơn vị hành chính cấp xã.
Một bộ máy tinh gọn hơn phải đồng nghĩa với một chính quyền gần dân hơn, quyết định nhanh hơn và chịu trách nhiệm rõ hơn. Đây không đơn thuần là câu chuyện tổ chức bộ máy. Đó là cơ hội để thiết kế lại toàn bộ quy trình quản trị theo nguyên tắc: Một dữ liệu – một quy trình – một đầu mối – một trách nhiệm – một kết quả. Người dân không cần biết hồ sơ của mình đi qua bao nhiêu cơ quan. Doanh nghiệp không cần phải hiểu hết cấu trúc bên trong của bộ máy hành chính. Điều họ cần là một chính quyền giải quyết công việc minh bạch, đúng hạn và có trách nhiệm.
Đó phải là thước đo quan trọng của chính quyền thành phố Quảng Ninh trong tương lai.
Không để “chi phí thể chế” trở thành chi phí phát triển
Trong cạnh tranh thu hút đầu tư hiện nay, nhà đầu tư không chỉ tính giá đất, giá điện, chi phí logistics hay tiền lương. Họ còn tính một loại chi phí khác: chi phí thời gian và chi phí thủ tục. Một dự án chậm triển khai một năm có thể làm mất cơ hội thị trường. Một thủ tục phải đi lại nhiều lần làm tăng chi phí. Một quy hoạch thiếu đồng bộ có thể khiến doanh nghiệp không thể triển khai dự án đúng tiến độ.
Do đó, Quảng Ninh cần tiến tới một mô hình “chính quyền không tạo thêm chi phí giao dịch cho nền kinh tế”.
Muốn vậy, cần tiếp tục số hóa toàn bộ chu trình đầu tư, từ tiếp cận thông tin quy hoạch, đất đai, môi trường đến cấp phép, triển khai và giám sát dự án. Đặc biệt, cần xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung về quy hoạch, đất đai, hạ tầng, môi trường, dân cư và doanh nghiệp; từng bước để người dân, doanh nghiệp có thể tra cứu trước – quyết định trước – thực hiện trước, thay vì phải hỏi từng cơ quan.
Đây cũng là tinh thần phù hợp với Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, trong đó xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại và đổi mới phương thức quản trị.
Thể chế phải đi trước những ngành kinh tế mới
Một nền quản trị tốt không chỉ giải quyết những vấn đề đang tồn tại. Quan trọng hơn, nó phải mở đường cho những mô hình kinh doanh mới. Khi Quảng Ninh phát triển kinh tế biển, sẽ xuất hiện những vấn đề mới về không gian mặt nước, nuôi biển công nghệ cao, logistics lạnh, chế biến sâu, bảo tồn biển. Khi phát triển kinh tế số, sẽ xuất hiện nhu cầu về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, nền tảng số, giao dịch điện tử và các mô hình kinh doanh chưa có tiền lệ. Khi phát triển kinh tế sinh thái, sẽ xuất hiện những thị trường mới như tín chỉ carbon, dịch vụ hệ sinh thái, du lịch sinh thái, dược liệu dưới tán rừng. Nếu thể chế luôn đi sau thực tiễn, cơ hội sẽ bị bỏ lỡ. Vì vậy, Quảng Ninh cần mạnh dạn nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với những mô hình mới; đồng thời tăng cường đặt hàng doanh nghiệp, nhà khoa học giải quyết những bài toán cụ thể của địa phương.
Tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW cũng đặt yêu cầu phải hoàn thiện thể chế, xóa bỏ những rào cản cản trở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời coi thể chế là một lợi thế cạnh tranh.
Đây là tư duy mà Quảng Ninh có thể chuyển hóa thành lợi thế riêng của mình.
Quản trị bằng dữ liệu, quyết định bằng bằng chứng
Một thành phố - vùng có quy mô hơn 6.200 km², dân số hơn 1,5 triệu người và cấu trúc phát triển trải rộng từ đô thị, biển đảo, miền núi đến biên giới không thể được điều hành hiệu quả chỉ bằng phương thức quản lý truyền thống.
Quảng Ninh cần tiến tới mô hình quản trị dựa trên dữ liệu và bằng chứng. Khi một khu vực có dấu hiệu quá tải du lịch, hệ thống phải cảnh báo. Khi môi trường biển có biến động bất thường, dữ liệu phải được cập nhật. Khi một khu công nghiệp phát sinh nguy cơ ô nhiễm, cơ quan quản lý phải nhận diện sớm. Khi giao thông có nguy cơ ùn tắc, chính quyền phải có khả năng dự báo.Khi một vùng nông thôn, miền núi có nguy cơ thiếu sinh kế, dữ liệu kinh tế - xã hội phải giúp nhận diện trước. Từ đó, chính quyền không chỉ phản ứng với vấn đề, mà có thể dự báo và phòng ngừa vấn đề. Đó là bước chuyển từ chính quyền điện tử sang chính quyền thông minh.
Doanh nghiệp phải được nhìn như đối tác phát triển
Mục tiêu của cải cách thể chế cuối cùng phải được phản ánh bằng năng lực phát triển của doanh nghiệp. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025-2030 đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân 12%/năm; kinh tế số chiếm 30% GRDP; kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 40-45% GRDP; mỗi năm thành lập mới khoảng 2.000 doanh nghiệp. Đây là những chỉ tiêu rất cao.
Nhưng cũng chính những mục tiêu ấy đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách nhìn về khu vực tư nhân. Doanh nghiệp không chỉ là đối tượng quản lý. Doanh nghiệp phải trở thành đối tác kiến tạo phát triển. Chính quyền cần chuyển mạnh từ tư duy “cho phép doanh nghiệp làm” sang “tạo điều kiện để doanh nghiệp làm tốt hơn”.
Mỗi chính sách lớn cần có đánh giá tác động đối với doanh nghiệp. Mỗi quy hoạch cần tính đến chi phí logistics và khả năng tiếp cận thị trường. Mỗi dự án công cần xem xét khả năng kéo theo đầu tư tư nhân. Mỗi cuộc đối thoại doanh nghiệp cần được kết thúc bằng đầu việc, thời hạn và người chịu trách nhiệm, thay vì chỉ dừng ở trao đổi. Khi niềm tin giữa chính quyền và doanh nghiệp được củng cố, nguồn lực xã hội sẽ được giải phóng.
Một chính quyền mạnh không phải là chính quyền làm nhiều
Trong giai đoạn mới, một chính quyền mạnh không nhất thiết là chính quyền trực tiếp làm nhiều việc. Chính quyền mạnh là chính quyền biết việc gì Nhà nước phải làm, việc gì thị trường có thể làm, việc gì xã hội có thể tham gia và việc gì cần Nhà nước kiến tạo.
Nhà nước tập trung vào quy hoạch, thể chế, hạ tầng chiến lược, an sinh xã hội, môi trường, quốc phòng - an ninh và những lĩnh vực thị trường không thể tự giải quyết. Doanh nghiệp phát huy vai trò đầu tư, sản xuất, kinh doanh và đổi mới sáng tạo. Người dân tham gia quản trị xã hội, giám sát và thụ hưởng thành quả phát triển. Các trường đại học, viện nghiên cứu trở thành nguồn cung tri thức. Các tổ chức xã hội, hiệp hội nghề nghiệp trở thành cầu nối giữa chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng.
Đó là hệ sinh thái quản trị phát triển, thay cho mô hình quản lý hành chính đơn tuyến.
Từ một chính quyền phục vụ đến một chính quyền kiến tạo
Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 80/QĐ-TTg ngày 11/2/2023 và Kế hoạch thực hiện quy hoạch được ban hành tại Quyết định số 1279/QĐ-TTg ngày 1/11/2023 đã tạo nền tảng quan trọng cho việc tổ chức không gian và huy động nguồn lực phát triển. Nhưng quy hoạch chỉ thực sự có giá trị khi được chuyển hóa thành những quyết định nhanh, đúng và nhất quán.
Bước vào giai đoạn thành phố trực thuộc Trung ương, Quảng Ninh cần hình thành một “chuẩn quản trị Quảng Ninh” với những yêu cầu rõ ràng: Quy hoạch phải minh bạch. Chính sách phải ổn định. Thủ tục phải đơn giản. Dữ liệu phải liên thông. Trách nhiệm phải cá thể hóa. Đầu tư công phải dẫn dắt đầu tư tư nhân. Đối thoại phải đi cùng hành động. Đánh giá cán bộ phải gắn với kết quả phát triển.
Nếu thực hiện được những nguyên tắc ấy, chính quyền sẽ không chỉ là bộ máy thực thi chính sách, mà trở thành một nguồn lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Lợi thế cuối cùng là niềm tin
Quảng Ninh đã có biển, có rừng, có di sản, có cửa khẩu, có cảng biển, có hạ tầng và một vị trí địa chiến lược đặc biệt. Nhưng những lợi thế ấy có thể được nhiều nơi học hỏi, cạnh tranh và thay thế.
Niềm tin thì khác. Niềm tin của doanh nghiệp vào chính sách. Niềm tin của người dân vào chính quyền. Niềm tin của nhà đầu tư vào môi trường kinh doanh. Niềm tin của người trẻ vào cơ hội lập nghiệp. Niềm tin của xã hội vào một tương lai phát triển công bằng và bền vững… Đó mới là thứ tài sản vô hình quyết định khả năng đi đường dài.
Năm 2025, Quảng Ninh đạt mức tăng trưởng GRDP 11,89%, cao nhất cả nước; năng suất lao động xã hội đạt khoảng 537 triệu đồng/người, tăng 11,6%. Những kết quả ấy cho thấy nền kinh tế đang tạo ra động lực mới. Nhưng giai đoạn tiếp theo sẽ khó khăn hơn.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đặt mục tiêu đến năm 2030 GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 20.000 USD, kinh tế số chiếm 30% GRDP, TFP đóng góp trên 55% và kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 40-45% GRDP.
Khi thể chế trở thành một nguồn lực phát triển
Trong một thời gian dài, lợi thế của Quảng Ninh thường được nhìn nhận từ vị trí địa lý, tài nguyên, biển đảo, di sản, cửa khẩu, cảng biển hay hệ thống hạ tầng. Nhưng trong một nền kinh tế hiện đại, còn một loại tài sản vô hình có giá trị đặc biệt: năng lực thể chế.
Một nhà đầu tư có thể lựa chọn nhiều địa phương để xây dựng nhà máy. Một doanh nghiệp logistics có thể lựa chọn nhiều cảng biển. Một du khách quốc tế có thể lựa chọn nhiều điểm đến. Một chuyên gia công nghệ có thể lựa chọn nhiều thành phố để làm việc.
Vì vậy, câu hỏi cạnh tranh không chỉ là Quảng Ninh có gì, mà còn là: Quảng Ninh giải quyết công việc nhanh đến đâu? Chi phí gia nhập thị trường thấp đến mức nào? Chính sách có ổn định không? Dữ liệu có minh bạch không? Chính quyền có đồng hành với doanh nghiệp không? Và người dân có thực sự cảm nhận được chất lượng của nền hành chính mới? Đó chính là những câu hỏi của một thành phố trực thuộc Trung ương trong giai đoạn phát triển mới.
Quảng Ninh đã có những nền tảng đáng kể. Năm 2025, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 368.445 tỷ đồng; tổng thu ngân sách nhà nước đạt khoảng 84.500 tỷ đồng; tổng vốn đầu tư trong nước ngoài ngân sách đạt khoảng 480.000 tỷ đồng, gấp gần 16 lần năm trước. Những con số ấy cho thấy năng lực huy động nguồn lực của địa phương đã ở một quy mô lớn.
Nhưng quy mô nguồn lực càng lớn thì mỗi quyết định sai, mỗi thủ tục chậm, mỗi quy hoạch thiếu đồng bộ cũng tạo ra chi phí xã hội lớn hơn. Bởi vậy, cải cách thể chế không còn là nhiệm vụ hỗ trợ phát triển. Nó phải trở thành một bộ phận trực tiếp của chiến lược tăng trưởng.
Từ cải cách hành chính đến quản trị phát triển
Quảng Ninh đã có kinh nghiệm nhiều năm trong cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư và đồng hành cùng doanh nghiệp. Bước vào giai đoạn mới, yêu cầu cần được nâng lên một cấp độ khác: từ cải cách thủ tục sang cải cách phương thức quản trị. Điều này càng có ý nghĩa khi Quảng Ninh đã chuyển sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, tổ chức lại không gian quản lý với 54 đơn vị hành chính cấp xã.
Một bộ máy tinh gọn hơn phải đồng nghĩa với một chính quyền gần dân hơn, quyết định nhanh hơn và chịu trách nhiệm rõ hơn. Đây không đơn thuần là câu chuyện tổ chức bộ máy. Đó là cơ hội để thiết kế lại toàn bộ quy trình quản trị theo nguyên tắc: Một dữ liệu – một quy trình – một đầu mối – một trách nhiệm – một kết quả. Người dân không cần biết hồ sơ của mình đi qua bao nhiêu cơ quan. Doanh nghiệp không cần phải hiểu hết cấu trúc bên trong của bộ máy hành chính. Điều họ cần là một chính quyền giải quyết công việc minh bạch, đúng hạn và có trách nhiệm.
Đó phải là thước đo quan trọng của chính quyền thành phố Quảng Ninh trong tương lai.
Không để “chi phí thể chế” trở thành chi phí phát triển
Trong cạnh tranh thu hút đầu tư hiện nay, nhà đầu tư không chỉ tính giá đất, giá điện, chi phí logistics hay tiền lương. Họ còn tính một loại chi phí khác: chi phí thời gian và chi phí thủ tục. Một dự án chậm triển khai một năm có thể làm mất cơ hội thị trường. Một thủ tục phải đi lại nhiều lần làm tăng chi phí. Một quy hoạch thiếu đồng bộ có thể khiến doanh nghiệp không thể triển khai dự án đúng tiến độ.
Do đó, Quảng Ninh cần tiến tới một mô hình “chính quyền không tạo thêm chi phí giao dịch cho nền kinh tế”.
Muốn vậy, cần tiếp tục số hóa toàn bộ chu trình đầu tư, từ tiếp cận thông tin quy hoạch, đất đai, môi trường đến cấp phép, triển khai và giám sát dự án. Đặc biệt, cần xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung về quy hoạch, đất đai, hạ tầng, môi trường, dân cư và doanh nghiệp; từng bước để người dân, doanh nghiệp có thể tra cứu trước – quyết định trước – thực hiện trước, thay vì phải hỏi từng cơ quan.
Đây cũng là tinh thần phù hợp với Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, trong đó xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại và đổi mới phương thức quản trị.
Thể chế phải đi trước những ngành kinh tế mới
Một nền quản trị tốt không chỉ giải quyết những vấn đề đang tồn tại. Quan trọng hơn, nó phải mở đường cho những mô hình kinh doanh mới. Khi Quảng Ninh phát triển kinh tế biển, sẽ xuất hiện những vấn đề mới về không gian mặt nước, nuôi biển công nghệ cao, logistics lạnh, chế biến sâu, bảo tồn biển. Khi phát triển kinh tế số, sẽ xuất hiện nhu cầu về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, nền tảng số, giao dịch điện tử và các mô hình kinh doanh chưa có tiền lệ. Khi phát triển kinh tế sinh thái, sẽ xuất hiện những thị trường mới như tín chỉ carbon, dịch vụ hệ sinh thái, du lịch sinh thái, dược liệu dưới tán rừng. Nếu thể chế luôn đi sau thực tiễn, cơ hội sẽ bị bỏ lỡ. Vì vậy, Quảng Ninh cần mạnh dạn nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với những mô hình mới; đồng thời tăng cường đặt hàng doanh nghiệp, nhà khoa học giải quyết những bài toán cụ thể của địa phương.
Tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW cũng đặt yêu cầu phải hoàn thiện thể chế, xóa bỏ những rào cản cản trở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời coi thể chế là một lợi thế cạnh tranh.
Đây là tư duy mà Quảng Ninh có thể chuyển hóa thành lợi thế riêng của mình.
Quản trị bằng dữ liệu, quyết định bằng bằng chứng
Một thành phố - vùng có quy mô hơn 6.200 km², dân số hơn 1,5 triệu người và cấu trúc phát triển trải rộng từ đô thị, biển đảo, miền núi đến biên giới không thể được điều hành hiệu quả chỉ bằng phương thức quản lý truyền thống.
Quảng Ninh cần tiến tới mô hình quản trị dựa trên dữ liệu và bằng chứng. Khi một khu vực có dấu hiệu quá tải du lịch, hệ thống phải cảnh báo. Khi môi trường biển có biến động bất thường, dữ liệu phải được cập nhật. Khi một khu công nghiệp phát sinh nguy cơ ô nhiễm, cơ quan quản lý phải nhận diện sớm. Khi giao thông có nguy cơ ùn tắc, chính quyền phải có khả năng dự báo.Khi một vùng nông thôn, miền núi có nguy cơ thiếu sinh kế, dữ liệu kinh tế - xã hội phải giúp nhận diện trước. Từ đó, chính quyền không chỉ phản ứng với vấn đề, mà có thể dự báo và phòng ngừa vấn đề. Đó là bước chuyển từ chính quyền điện tử sang chính quyền thông minh.
Doanh nghiệp phải được nhìn như đối tác phát triển
Mục tiêu của cải cách thể chế cuối cùng phải được phản ánh bằng năng lực phát triển của doanh nghiệp. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025-2030 đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân 12%/năm; kinh tế số chiếm 30% GRDP; kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 40-45% GRDP; mỗi năm thành lập mới khoảng 2.000 doanh nghiệp. Đây là những chỉ tiêu rất cao.
Nhưng cũng chính những mục tiêu ấy đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách nhìn về khu vực tư nhân. Doanh nghiệp không chỉ là đối tượng quản lý. Doanh nghiệp phải trở thành đối tác kiến tạo phát triển. Chính quyền cần chuyển mạnh từ tư duy “cho phép doanh nghiệp làm” sang “tạo điều kiện để doanh nghiệp làm tốt hơn”.
Mỗi chính sách lớn cần có đánh giá tác động đối với doanh nghiệp. Mỗi quy hoạch cần tính đến chi phí logistics và khả năng tiếp cận thị trường. Mỗi dự án công cần xem xét khả năng kéo theo đầu tư tư nhân. Mỗi cuộc đối thoại doanh nghiệp cần được kết thúc bằng đầu việc, thời hạn và người chịu trách nhiệm, thay vì chỉ dừng ở trao đổi. Khi niềm tin giữa chính quyền và doanh nghiệp được củng cố, nguồn lực xã hội sẽ được giải phóng.
Một chính quyền mạnh không phải là chính quyền làm nhiều
Trong giai đoạn mới, một chính quyền mạnh không nhất thiết là chính quyền trực tiếp làm nhiều việc. Chính quyền mạnh là chính quyền biết việc gì Nhà nước phải làm, việc gì thị trường có thể làm, việc gì xã hội có thể tham gia và việc gì cần Nhà nước kiến tạo.
Nhà nước tập trung vào quy hoạch, thể chế, hạ tầng chiến lược, an sinh xã hội, môi trường, quốc phòng - an ninh và những lĩnh vực thị trường không thể tự giải quyết. Doanh nghiệp phát huy vai trò đầu tư, sản xuất, kinh doanh và đổi mới sáng tạo. Người dân tham gia quản trị xã hội, giám sát và thụ hưởng thành quả phát triển. Các trường đại học, viện nghiên cứu trở thành nguồn cung tri thức. Các tổ chức xã hội, hiệp hội nghề nghiệp trở thành cầu nối giữa chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng.
Đó là hệ sinh thái quản trị phát triển, thay cho mô hình quản lý hành chính đơn tuyến.
Từ một chính quyền phục vụ đến một chính quyền kiến tạo
Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 80/QĐ-TTg ngày 11/2/2023 và Kế hoạch thực hiện quy hoạch được ban hành tại Quyết định số 1279/QĐ-TTg ngày 1/11/2023 đã tạo nền tảng quan trọng cho việc tổ chức không gian và huy động nguồn lực phát triển. Nhưng quy hoạch chỉ thực sự có giá trị khi được chuyển hóa thành những quyết định nhanh, đúng và nhất quán.
Bước vào giai đoạn thành phố trực thuộc Trung ương, Quảng Ninh cần hình thành một “chuẩn quản trị Quảng Ninh” với những yêu cầu rõ ràng: Quy hoạch phải minh bạch. Chính sách phải ổn định. Thủ tục phải đơn giản. Dữ liệu phải liên thông. Trách nhiệm phải cá thể hóa. Đầu tư công phải dẫn dắt đầu tư tư nhân. Đối thoại phải đi cùng hành động. Đánh giá cán bộ phải gắn với kết quả phát triển.
Nếu thực hiện được những nguyên tắc ấy, chính quyền sẽ không chỉ là bộ máy thực thi chính sách, mà trở thành một nguồn lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Lợi thế cuối cùng là niềm tin
Quảng Ninh đã có biển, có rừng, có di sản, có cửa khẩu, có cảng biển, có hạ tầng và một vị trí địa chiến lược đặc biệt. Nhưng những lợi thế ấy có thể được nhiều nơi học hỏi, cạnh tranh và thay thế.
Niềm tin thì khác. Niềm tin của doanh nghiệp vào chính sách. Niềm tin của người dân vào chính quyền. Niềm tin của nhà đầu tư vào môi trường kinh doanh. Niềm tin của người trẻ vào cơ hội lập nghiệp. Niềm tin của xã hội vào một tương lai phát triển công bằng và bền vững… Đó mới là thứ tài sản vô hình quyết định khả năng đi đường dài.
Năm 2025, Quảng Ninh đạt mức tăng trưởng GRDP 11,89%, cao nhất cả nước; năng suất lao động xã hội đạt khoảng 537 triệu đồng/người, tăng 11,6%. Những kết quả ấy cho thấy nền kinh tế đang tạo ra động lực mới. Nhưng giai đoạn tiếp theo sẽ khó khăn hơn.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đặt mục tiêu đến năm 2030 GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 20.000 USD, kinh tế số chiếm 30% GRDP, TFP đóng góp trên 55% và kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 40-45% GRDP.
Tin mới
Tin bài khác
Nuôi cá bằng AI, quản lý tôm bằng RNA: Công nghệ Israel có gì đặc biệt?
Con người Quảng Ninh – nền tảng kiến tạo năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên mới
Ra mắt Câu lạc bộ Chim Cu gáy & Gà Cam Ranh, kết nối đam mê ba miền
Đèn lồng Uyên Ương kể chuyện văn hóa Hoa Lư
Làng kèn Phạm Pháo: Nơi những thanh âm trăm năm vẫn vang vọng
Làng phở Vân Cù – Nơi lưu giữ hồn phở Việt qua hơn một thế kỷ
Không gian sống bằng đá giữa rừng của ông Đặng Lê Nguyên Vũ
Nghề nón trăm năm ở Vĩnh Thịnh: Giữ nghề để có thêm thu nhập
Nghề đan quạt nan – Nét đẹp nghề thủ công truyền thống ở thôn Chiền (Hà Nội)
Về Quảng Trị, ghé ngôi nhà nơi cây cảnh và cổ vật kể chuyện thời gian
Lê Sinh - Người khai mở thú chơi đá cảnh ở Quảng Trị
Giữ tiếng Then, nghề xưa giữa dòng chảy du lịch cộng đồng Hữu Liên
Về làng Vân say men nồng hương rượu nếp
Thể chế kiến tạo – “lợi thế cạnh tranh” mới của Quảng Ninh
Hướng dẫn nhân giống trầu bà không cần đất
Con người Quảng Ninh – nền tảng kiến tạo năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên mới
Nông sản Lạng Sơn tìm hướng bứt phá bằng chuyển đổi số
Loại quả xưa chẳng ai để ý nay được chuộng, giá cao vẫn có người mua
Thể chế – hạ tầng – nhân lực: Ba nền tảng để Quảng Ninh bứt phá trong chu kỳ phát triển mới
3 loại cây cảnh vừa đẹp vừa ăn được, cực hợp trồng ở ban công
Đà Nẵng mở rộng không gian đô thị: Nối những mạch sống, dệt mảng xanh bền vững
Nuôi ốc bươu đen, chủ động từ con giống đến đầu ra
Tạo điểm nhấn cho lối đi sân vườn với 5 loại cây quen thuộc
Tận dụng phù du tự nhiên, nuôi hàu cho hiệu quả kinh tế cao
Rơm rạ từng bị đốt bỏ nay thành nguồn thu, nông dân trồng nấm rồi tận dụng cả phế phẩm
Thanh nhãn Cà Mau: Vỏ dày, cơm vàng, giòn ngọt, giá đắt vẫn được săn tìm
Vườn cây ở Chùa Từ Tôn – màu xanh kỳ công giữa biển trời Hòn Đỏ, Nha Trang
Săn mùa vàng giữa cánh đồng điện gió Đầm Nại
Mô hình cà phê giữa ruộng lúa: Hướng đi mới cho kinh tế sinh thái nông thôn
Duối “Rồng vàng đất Việt”, hải châu trĩu quả và những tuyệt phẩm sinh vật cảnh tại Gia Lai
4 điểm hẹn ngắm Hà Nội chuyển màu lúc hoàng hôn
Việt Nam - Nơi hội tụ nghệ thuật Bonsai & Suiseki
Hội Sinh vật cảnh và Làm vườn Quảng Ninh sẵn sàng cho Triển lãm, dự thi Bonsai nghệ thuật năm 2026
Đặc sản ba miền hội tụ tại chợ lớn nhất Hà Tĩnh
Về Quảng Trị, ghé ngôi nhà nơi cây cảnh và cổ vật kể chuyện thời gian
