Con người Quảng Ninh – nền tảng kiến tạo năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên mới
Khi mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân 12%/năm, kinh tế số chiếm 30% GRDP và GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 20.000 USD vào năm 2030 đã được xác lập, câu hỏi lớn đặt ra là: ai sẽ tạo ra năng lực cạnh tranh mới? Câu trả lời trước hết nằm ở con người. Vì vậy, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, một xã hội học tập và một nền quản trị chuyên nghiệp phải trở thành chiến lược trung tâm của thành phố Quảng Ninh trong giai đoạn mới.
![]() |
| Người lao động tại Công ty TNHH Jinsung Hitec Vina, Khu công nghiệp Đông Mai. Cùng với công nghệ và thiết bị hiện đại, chất lượng nguồn nhân lực đang trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của Quảng Ninh. Ảnh: Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh. |
Không có thành phố mạnh nếu thiếu con người mạnh
Trong các bài viết trước của tuyến bài, những lợi thế về không gian, kinh tế, biển, rừng, di sản và các động lực tăng trưởng mới đã được đặt ra. Nhưng phía sau tất cả những nguồn lực ấy vẫn có một nguồn lực quyết định hơn: con người.
Một cảng biển hiện đại cần những kỹ sư, chuyên gia logistics và người lao động có kỹ năng.
Một nhà máy công nghệ cao cần nhân lực có khả năng vận hành, thiết kế, quản trị và đổi mới.
Một nền kinh tế số cần những người hiểu dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và công nghệ.
Một thành phố thông minh cần đội ngũ cán bộ có tư duy quản trị hiện đại.
Một nền kinh tế văn hóa cần những người biết biến di sản thành sản phẩm mà không làm mất đi giá trị cốt lõi của di sản.
Vì vậy, khi Quảng Ninh chuyển từ một tỉnh mạnh sang một thành phố trực thuộc Trung ương, bài toán lớn nhất không chỉ là xây thêm bao nhiêu kilomet đường, bao nhiêu khu đô thị hay bao nhiêu nhà máy, mà là xây dựng được một đội ngũ con người có đủ năng lực vận hành không gian phát triển mới.
Đây cũng là yêu cầu đã được đặt ra trong Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050: phát huy tối đa nhân tố con người, lấy đầu tư cho giáo dục và đào tạo làm nền tảng lâu dài, gắn phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với nâng năng suất lao động và chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo chiều sâu.
Từ “đủ lao động” đến “đúng người, đúng việc”
Quảng Ninh đã có những bước tiến đáng kể. Đến hết năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 87,5%, trong đó tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 52,1%; số sinh viên đạt 229 sinh viên/vạn dân. Riêng quý I/2026, tỷ lệ lao động qua đào tạo tiếp tục tăng lên 87,6%.
Năm 2025, toàn địa bàn giải quyết việc làm mới cho khoảng 30.740 lượt lao động, đồng thời tuyển sinh đào tạo nghề nghiệp khoảng 40.000 người.
Đó là những con số đáng ghi nhận. Nhưng bước vào giai đoạn mới, yêu cầu không còn đơn thuần là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo. Điều quan trọng hơn là đào tạo để làm gì, cho ngành nào và tạo ra giá trị gì.
Nếu Quảng Ninh phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo thì trường nghề phải đào tạo được công nhân kỹ thuật, kỹ sư tự động hóa, điện tử, cơ khí chính xác.
Nếu phát triển kinh tế biển thì cần chuyên gia nuôi biển, công nghệ sau thu hoạch, logistics, hàng hải và quản trị tài nguyên biển.
Nếu phát triển du lịch quốc tế thì phải có nhân lực ngoại ngữ, quản trị khách sạn, ẩm thực, văn hóa và dịch vụ cao cấp.
Nếu phát triển kinh tế số thì cần dữ liệu, AI, an toàn thông tin, công nghệ phần mềm.
Nếu phát triển kinh tế sinh thái thì cần chuyên gia về môi trường, lâm nghiệp, đa dạng sinh học, carbon và kinh tế tuần hoàn.
Đào tạo nguồn nhân lực vì thế phải đi trước một bước so với nhu cầu phát triển. Đây là sự chuyển đổi từ tư duy “đào tạo những gì cơ sở đào tạo có” sang “đào tạo những gì nền kinh tế tương lai cần”.
Một “bản đồ nhân lực” cho thành phố Quảng Ninh
Quảng Ninh cần xây dựng một bản đồ nhu cầu nhân lực đến năm 2030, tầm nhìn 2045, cập nhật thường xuyên theo từng ngành, từng không gian phát triển và từng nhóm nghề. Đây không nên chỉ là một cơ sở dữ liệu hành chính. Đó phải là hệ thống dữ liệu có khả năng trả lời những câu hỏi rất cụ thể: ngành nào đang thiếu người; kỹ năng nào đang thiếu; doanh nghiệp cần bao nhiêu lao động trong 3-5 năm tới; nghề nào có nguy cơ dư thừa; ngành nào cần thu hút chuyên gia từ bên ngoài; địa bàn nào cần đào tạo tại chỗ. Trên cơ sở đó, các trường đại học, cao đẳng và cơ sở giáo dục nghề nghiệp có thể điều chỉnh chương trình đào tạo theo nhu cầu thực tế.
Doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng chương trình, đào tạo và tuyển dụng.
Nhà nước đặt hàng đào tạo những ngành nghề chiến lược.
Người học có thông tin đầy đủ hơn trước khi lựa chọn nghề nghiệp.
Đây chính là cách hình thành thị trường nhân lực có dữ liệu dẫn đường.
Quảng Ninh đã có nền tảng chính sách cho hướng đi này. Đề án phát triển nguồn nhân lực được phê duyệt tại Quyết định số 1061/QĐ-UBND ngày 4/4/2024 đặt mục tiêu đến năm 2030 quy mô nguồn nhân lực khoảng 874.250 người, tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 92,5%, trong đó cơ cấu nhân lực khu vực dịch vụ dự kiến chiếm 55,7%. Vấn đề của giai đoạn tiếp theo là phải biến các mục tiêu ấy thành chất lượng thực tế của từng người lao động.
Không chỉ thu hút nhân tài, phải tạo nơi để nhân tài phát huy
Trong nền kinh tế dựa trên tri thức, nhân tài không chỉ tìm kiếm thu nhập.
Họ tìm kiếm môi trường làm việc, cơ hội sáng tạo, điều kiện nghiên cứu, khả năng tiếp cận dữ liệu, hệ sinh thái doanh nghiệp và không gian để biến ý tưởng thành sản phẩm.
Quảng Ninh đã có bước đi đáng chú ý khi HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 57/2025/NQ-HĐND ngày 17/7/2025, quy định chính sách thu hút, hỗ trợ nhân lực về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2025-2030. Chính sách bao phủ các lĩnh vực như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, an toàn thông tin, khoa học kỹ thuật, công nghệ môi trường...; mức hỗ trợ một lần đối với một số chuyên gia, nhân lực trình độ cao có thể lên tới 1 tỷ đồng.
Đó là bước khởi đầu cần thiết.
Nhưng chính sách thu hút nhân tài chỉ thực sự hiệu quả nếu đi cùng chính sách sử dụng và giữ chân nhân tài.
Quảng Ninh cần mạnh dạn xây dựng những “địa chỉ” để người tài đến và làm việc: trung tâm nghiên cứu biển, công nghệ môi trường, AI, công nghệ sinh học; các phòng thí nghiệm dùng chung; trung tâm đổi mới sáng tạo; không gian khởi nghiệp; cơ chế đặt hàng nghiên cứu từ những bài toán thực tế của thành phố.
Thu hút một chuyên gia là chính sách nhân lực. Tạo điều kiện để chuyên gia tạo ra một công nghệ, một doanh nghiệp hay một ngành kinh tế mới mới là chính sách phát triển.
Nhà trường không thể đứng ngoài nền kinh tế
Một thành phố muốn đi nhanh phải xây dựng được mối liên kết chặt chẽ giữa nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp – nhà khoa học.
Trường Đại học Hạ Long, các trường cao đẳng và cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn cần được đặt trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực chung của thành phố.
Doanh nghiệp không chỉ đến trường tuyển người sau khi sinh viên tốt nghiệp.
Doanh nghiệp phải tham gia từ đầu: xác định nghề cần đào tạo, xây dựng chương trình, cung cấp thiết bị, tổ chức thực hành và tiếp nhận sinh viên thực tập.
Nhà trường không chỉ cấp bằng. Nhà trường phải tạo ra năng lực làm việc. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng khi Quảng Ninh đang đặt mục tiêu tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trên 18% GRDP, kinh tế số chiếm 30% GRDP và TFP đóng góp trên 55% vào tăng trưởng vào năm 2030.
Những mục tiêu ấy không thể đạt được chỉ bằng vốn đầu tư.
Năng suất phải được tạo ra bởi con người có kỹ năng, công nghệ và phương thức quản trị tiên tiến.
Một chính quyền mới cần một thế hệ cán bộ mới
Thành phố trực thuộc Trung ương không chỉ cần những kỹ sư giỏi hay công nhân lành nghề. Nó cần một đội ngũ cán bộ có tư duy thành phố - vùng. Đó là những người hiểu quy hoạch tích hợp, kinh tế đô thị, kinh tế biển, môi trường, dữ liệu, đầu tư, tài chính công và hội nhập quốc tế.
Một quyết định về đất đai phải nhìn thấy tác động đến giao thông, môi trường, dân cư và ngân sách. Một dự án cảng phải được đặt trong mạng lưới logistics. Một dự án du lịch phải tính đến sức chịu tải của hệ sinh thái. Một chính sách phát triển miền núi phải tính đến sinh kế, rừng, văn hóa và kết nối thị trường. Nói cách khác, quản trị một thành phố - vùng đòi hỏi năng lực nhìn thấy mối liên hệ giữa những vấn đề vốn trước đây được quản lý theo từng ngành, từng địa bàn.
Đây cũng là lý do phát triển nhân lực khu vực công phải được coi là một bộ phận của chiến lược phát triển kinh tế chứ không chỉ là công tác tổ chức cán bộ.
Đầu tư cho con người phải đo bằng kết quả
Trong giai đoạn tới, Quảng Ninh cần thay đổi cách đánh giá chính sách nhân lực. Không nên chỉ đo bằng số lớp đào tạo, số chứng chỉ hay số người được cấp bằng. Cần đo bằng những chỉ số gần hơn với năng lực cạnh tranh: bao nhiêu người có việc làm đúng chuyên môn; bao nhiêu người tăng thu nhập sau đào tạo; bao nhiêu doanh nghiệp tuyển được lao động phù hợp; năng suất lao động tăng bao nhiêu; bao nhiêu sáng kiến được thương mại hóa; bao nhiêu chuyên gia được giữ lại; bao nhiêu doanh nghiệp công nghệ được hình thành.
Đó mới là thước đo thực chất của đầu tư cho con người.
Quảng Ninh hiện đặt mục tiêu đến năm 2030 tỷ lệ lao động qua đào tạo trên 90%, tỷ lệ có bằng cấp, chứng chỉ 48%, tỷ lệ thất nghiệp dưới 2%, đồng thời phấn đấu chỉ số phát triển con người (HDI) thuộc nhóm 5 địa phương dẫn đầu cả nước.
Những mục tiêu này cần được cụ thể hóa thành một chiến lược phát triển con người toàn diện, từ giáo dục mầm non, phổ thông, nghề nghiệp, đại học đến đào tạo lại và học tập suốt đời.
Một thành phố học tập, sáng tạo và đáng sống
Nền kinh tế tương lai thay đổi nhanh đến mức một người có thể phải học lại nhiều lần trong cuộc đời lao động. Vì thế, Quảng Ninh cần chuyển từ quan niệm “học để có một nghề” sang “học để có khả năng thích ứng với nhiều nghề”. Mỗi người lao động phải có năng lực số cơ bản. Mỗi doanh nghiệp cần có chương trình đào tạo lại nhân lực. Mỗi cơ sở giáo dục phải có khả năng kết nối với thị trường. Mỗi người trẻ phải có cơ hội tiếp cận khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Và mỗi địa bàn, từ đô thị đến miền núi, biên giới, hải đảo, phải được tiếp cận bình đẳng với giáo dục chất lượng.
Đầu tư cho con người vì vậy cũng là đầu tư cho công bằng phát triển.
Một thành phố chỉ thực sự mạnh khi người dân ở trung tâm, miền núi, biên giới và các đặc khu đều có cơ hội nâng cao năng lực, tìm kiếm việc làm tốt và tham gia vào các chuỗi giá trị mới.
Từ “nguồn nhân lực” đến “vốn con người”
Đây có lẽ là sự thay đổi quan trọng nhất về tư duy. Nguồn nhân lực thường được nhìn bằng số lượng lao động.
Vốn con người được nhìn bằng tri thức, kỹ năng, sức khỏe, khả năng sáng tạo, đạo đức nghề nghiệp và năng lực tạo ra giá trị.
Với Quảng Ninh, chuyển sang tư duy vốn con người có nghĩa là không chỉ hỏi thành phố có bao nhiêu lao động, mà phải hỏi: Mỗi người lao động tạo ra bao nhiêu giá trị? Mỗi nhà khoa học tạo ra bao nhiêu tri thức có thể ứng dụng? Mỗi doanh nhân tạo ra bao nhiêu việc làm và giá trị mới? Mỗi cán bộ tạo ra bao nhiêu hiệu quả quản trị?
Khi những câu hỏi ấy trở thành một phần của hoạch định chính sách, con người sẽ thực sự trở thành trung tâm của chiến lược phát triển.
Một lợi thế không thể sao chép
Biển có thể được nhiều địa phương khai thác. Cảng biển có thể được xây dựng ở nhiều nơi. Khu công nghiệp có thể được hình thành ở nhiều địa phương. Công nghệ có thể được mua. Hạ tầng có thể được đầu tư.
Nhưng chất lượng con người, văn hóa lao động, tinh thần đổi mới, năng lực quản trị và khát vọng phát triển của một cộng đồng không thể mua bằng tiền và cũng không thể hình thành trong ngày một ngày hai. Đó chính là lợi thế cạnh tranh bền vững nhất.
Quảng Ninh đã có truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm”; đã có một nền tảng giáo dục, đào tạo và nguồn nhân lực ngày càng được nâng lên; đã bắt đầu hình thành những chính sách cụ thể để thu hút nhân lực khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Những kết quả ấy cần được tiếp tục nâng lên thành một chiến lược vốn con người cho thành phố Quảng Ninh. Bởi cuối cùng, thành phố không được tạo nên bởi những tòa nhà. Thành phố được tạo nên bởi những con người biết làm chủ công nghệ, làm chủ tri thức, làm chủ tương lai và cùng nhau tạo dựng một không gian sống tốt đẹp hơn.
Quảng Ninh đã bước vào vị thế thành phố trực thuộc Trung ương sẽ là một dấu mốc về thể chế. Nhưng dấu mốc có ý nghĩa lâu dài hơn phải là ngày Quảng Ninh hình thành được một thế hệ công dân mới: có tri thức, kỹ năng, văn hóa, bản lĩnh, tinh thần đổi mới và khát vọng vươn lên.
Đó sẽ là nền tảng để những lợi thế về biển, rừng, di sản, công nghiệp, thương mại và vị trí địa chiến lược được chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh thực sự.
Và đó cũng là cách để Quảng Ninh không chỉ có một vị thế hành chính mới, mà thực sự có một vị thế phát triển mới trong bản đồ kinh tế của Việt Nam./.
Tin mới
Vì sao loài cây rực rỡ như trúc đào lại bị cấm trồng trên đường phố Hà Nội?
Chiêm nghiệm về hành trình trưởng thành của người trẻ qua bộ ảnh “Lam Du”
Tin bài khác
Ninh Bình đưa mục tiêu giảm phát thải vào chiến lược phát triển du lịch
Giữ cỏ dại trong vườn na, nông dân Lạng Sơn thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm
Việt Nam - Trung Quốc trao đổi kinh nghiệm chọn tạo giống hoa theo nhu cầu thị trường
Làng Chóa giữ nghề làm hương đen hơn 300 năm tuổi
Hà Nội tổ chức Festival làng nghề toàn cầu lần đầu tiên, quy tụ đại biểu từ 50 quốc gia
Gặp người gây dựng vườn hơn 2.000 chậu duối bonsai trong 3 năm
Bỏ tiền tỷ săn đá cảnh, người đàn ông có bộ sưu tập khiến giới chơi đá nể phục
Người thợ muốn truyền nghề nặn phôi tượng miễn phí cho người trẻ
Người trẻ 5 năm tạo tác bonsai hải châu: Hành trình từ phôi cây đến tác phẩm hoàn thiện
Hà Tĩnh: Đánh thức tiềm năng thiên nhiên từ du lịch sinh thái, trải nghiệm
3 cây bonsai được người chơi lâu năm ưa chuộng, càng chăm lâu càng có giá trị
Đá A Lưới – nét đẹp riêng của đất Huế qua bộ sưu tập của nhà sưu tập Kha Nguyễn
Đam mê mãnh liệt – từ người tài xế đến nghệ nhân bonsai với hàng trăm tác phẩm giá trị
5 loại cây đẹp nhưng cần cân nhắc kỹ khi trồng trong nhà
Rau dê Y Tý: Đặc sản rau rừng có tên gọi lạ, giá 55.000 đồng/kg
Sáu gốc bí đao khổng lồ cho 15 quả trên đảo Cù Lao Xanh
Cây dừa cạn: Loài hoa cảnh chứa hoạt chất được dùng trong điều trị ung thư
Lội ngược dòng thành công: Câu chuyện biến ao tôm thất bát thành điểm hẹn sinh thái thu tiền tỷ
Hà Tĩnh: Tăng cường bảo vệ, ngăn chặn hành vi xâm hại cây xanh đô thị
Từ “trông trời, trông đất” đến “trông dữ liệu”: Nông dân đổi cách làm nông
Khu vườn 700m² giữa Sài Gòn: Sân thượng trĩu rau quả, dưới đất 20 giống hồng khoe sắc
Liên kết sản xuất, bảo đảm đầu ra cho nông sản Gia Lai
Cá vền sông Lô hóa đặc sản, chả cá làm đến đâu bán hết đến đó
Giữ cỏ dại trong vườn na, nông dân Lạng Sơn thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm
Vườn đàn hương sáu năm tuổi dưới bóng cây rừng cổ thụ ở Hải Vân
Lão nông hơn 40 năm gắn bó với nghề nuôi ong, thu hàng trăm lít mật mỗi năm ở xứ Nghệ
Tôn vinh di sản và kiến tạo đầu ra cho nghề truyền thống tại Cố đô Huế
Lễ hội đền Đông Cuông ngập tràn sản vật mùa màng
Đền thờ Nguyễn Trung Trực – nơi lưu dấu khí phách anh hùng
Nông trại gần 9.000m² ở Đức và lựa chọn sống chậm của người phụ nữ Việt
5 tọa độ "đón thu" Hà Nội tuyệt đẹp cho dịp 20/10
Độc đáo vườn thú “Bách Điểu” giữa không gian sinh thái Hà Tĩnh
Đam mê sinh vật cảnh, gây dựng cơ nghiệp từ những gốc bonsai cổ thụ
Lão nông Hà Tĩnh được mệnh danh “vua” bonsai vùng đất địa linh nhân kiệt
Khai mạc Triển lãm Cây cảnh nghệ thuật Xứ Nghệ lần thứ I năm 2026
