Thể chế – hạ tầng – nhân lực: Ba nền tảng để Quảng Ninh bứt phá trong chu kỳ phát triển mới
Trở thành thành phố trực thuộc Trung ương không chỉ mở rộng không gian phát triển mà còn đặt Quảng Ninh trước yêu cầu nâng cấp toàn diện năng lực quản trị. Sau những đột phá về quy hoạch, hạ tầng và cải cách hành chính, chặng đường phía trước đòi hỏi Quảng Ninh phải kiến tạo một nền tảng phát triển mới, trong đó thể chế thông thoáng, hạ tầng đồng bộ và nguồn nhân lực chất lượng cao phải trở thành ba trụ cột tạo nên năng lực cạnh tranh dài hạn.
![]() |
| Hạ tầng giao thông chiến lược đang mở rộng không gian phát triển, đưa các trung tâm đô thị, công nghiệp, cảng biển và cửa khẩu của Quảng Ninh ngày càng kết nối chặt chẽ hơn. Ảnh: Báo Quảng Ninh. |
Từ nền tảng đã có đến yêu cầu mới
Quảng Ninh bước vào chu kỳ phát triển mới với một nền tảng mà không nhiều địa phương có được.
Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 80/QĐ-TTg ngày 11/2/2023, xác định Quảng Ninh trở thành một cực tăng trưởng của khu vực phía Bắc, trung tâm du lịch quốc tế, trung tâm kinh tế biển và cửa ngõ của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Quyết định số 1279/QĐ-TTg ngày 1/11/2023 về Kế hoạch thực hiện Quy hoạch tiếp tục cụ thể hóa các định hướng đó thành chương trình, dự án và nguồn lực phát triển.
Những kết quả kinh tế gần đây cho thấy nền tảng ấy đang phát huy hiệu quả. Năm 2025, GRDP của Quảng Ninh tăng 11,89%, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 368.445 tỷ đồng; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 33,69%.
Tuy nhiên, một nền kinh tế càng phát triển thì yêu cầu về chất lượng tăng trưởng càng cao.
Quảng Ninh không thể chỉ tiếp tục đầu tư thêm những tuyến đường, khu đô thị hay khu công nghiệp. Điều quan trọng hơn là phải tạo ra một hệ thống hạ tầng và thể chế có khả năng làm giảm chi phí phát triển, nâng năng suất và mở rộng không gian sáng tạo.
Đó là bài toán của giai đoạn mới.
Thể chế phải trở thành lợi thế cạnh tranh
![]() |
| Từ mô hình Trung tâm Hành chính công, Quảng Ninh đang tiếp tục chuyển từ “số hóa thủ tục” sang giải quyết thủ tục dựa trên dữ liệu, hướng tới nền hành chính chủ động phục vụ người dân, doanh nghiệp. Ảnh: Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Quảng Ninh. |
Trong nhiều năm, cải cách hành chính được Quảng Ninh xác định là một trong những đột phá phát triển. Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp từ ngày 1/7/2025 và sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã theo Nghị quyết số 1679/NQ-UBTVQH15 đã tạo ra một không gian quản trị mới. Nhưng tinh thần của việc sắp xếp không nên dừng ở giảm đầu mối. Điều quan trọng hơn là phải giảm chi phí thể chế.
Một doanh nghiệp đầu tư vào Quảng Ninh cần biết rõ: mất bao lâu để hoàn thành một thủ tục; một dự án phải đi qua bao nhiêu khâu; dữ liệu được chia sẻ như thế nào; trách nhiệm thuộc về ai và kết quả được đo bằng tiêu chí nào.
Vì vậy, thành phố Quảng Ninh cần hướng tới một mô hình quản trị dựa trên nguyên tắc: một dữ liệu – một quy trình – một đầu mối – một trách nhiệm – một kết quả.
Tinh thần này phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh cải cách thể chế và xây dựng chính quyền số; đồng thời cụ thể hóa quan điểm của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Trong đó, dữ liệu phải trở thành một loại hạ tầng thiết yếu; quyết định quản lý phải ngày càng dựa trên dữ liệu; người dân và doanh nghiệp phải là trung tâm của quá trình chuyển đổi.
Thể chế tốt không chỉ tạo thuận lợi cho đầu tư. Thể chế tốt phải tạo ra lợi thế mà địa phương khác khó sao chép.
Hạ tầng không chỉ để kết nối, mà phải tạo ra không gian kinh tế mới
![]() |
| Cao tốc Vân Đồn – Móng Cái tạo trục kết nối chiến lược dọc tỉnh, mở rộng không gian phát triển từ Hạ Long tới khu vực miền Đông và cửa khẩu quốc tế Móng Cái. Ảnh: Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh. |
Một trong những thành công nổi bật của Quảng Ninh những năm qua là phát triển kết cấu hạ tầng.
Cao tốc Hạ Long – Hải Phòng, cao tốc Hạ Long – Vân Đồn, Vân Đồn – Móng Cái, Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn cùng hệ thống cảng biển và cửa khẩu đã từng bước hình thành mạng lưới kết nối liên vùng, liên quốc gia.
Nhưng bước tiếp theo phải là chuyển từ hạ tầng giao thông sang hạ tầng kinh tế. Một tuyến cao tốc không chỉ có chức năng rút ngắn thời gian đi lại. Nó phải mở rộng thị trường cho doanh nghiệp. Một cảng biển không chỉ là nơi xếp dỡ hàng hóa. Nó phải kéo theo logistics, kho vận, công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ hàng hải. Một sân bay không chỉ phục vụ hành khách. Nó phải mở ra dòng khách quốc tế, hàng hóa giá trị cao và các dịch vụ mới.
![]() |
| Cảng biển Quảng Ninh cần được phát triển đồng bộ với logistics, kho vận, công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ hàng hải, qua đó nâng cao giá trị gia tăng của hệ thống hạ tầng cảng biển. Ảnh: Báo Nhân Dân. |
Từ cách tiếp cận đó, Quảng Ninh cần tổ chức lại mạng lưới hạ tầng theo các hành lang phát triển kinh tế. Hành lang Hạ Long – Quảng Yên – Hải Phòng cần tập trung vào công nghiệp công nghệ cao, cảng biển, logistics và đô thị hiện đại. Hành lang Hạ Long – Vân Đồn – Cô Tô tạo không gian cho du lịch biển đảo, dịch vụ chất lượng cao, kinh tế biển xanh và nghiên cứu biển. Hành lang Hạ Long – Uông Bí – Đông Triều kết nối công nghiệp, dịch vụ, đô thị, văn hóa và du lịch phía Tây. Hành lang Móng Cái – Hải Hà – Đầm Hà có thể phát huy mạnh hơn lợi thế cửa khẩu, logistics, thương mại quốc tế và công nghiệp. Các không gian miền núi, biên giới cần được kết nối bằng hạ tầng số, giao thông, logistics và các chuỗi giá trị nông – lâm nghiệp sinh thái.
Mục tiêu cuối cùng của hạ tầng không phải là có thêm bao nhiêu kilomet đường, mà là tạo thêm bao nhiêu cơ hội phát triển.
Nguồn nhân lực sẽ quyết định giới hạn tăng trưởng
Nếu thể chế là “luật chơi”, hạ tầng là “đường chạy” thì con người chính là yếu tố quyết định Quảng Ninh có thể chạy nhanh đến đâu.
Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng khi tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân 12%/năm giai đoạn 2026-2030, GRDP bình quân đầu người đạt 20.000 USD vào năm 2030, kinh tế số chiếm 30% GRDP, TFP đóng góp trên 55%.
Những mục tiêu ấy không thể đạt được chỉ bằng vốn đầu tư.
Quảng Ninh cần một chiến lược nhân lực tương ứng với nền kinh tế mới: kỹ sư công nghệ, chuyên gia logistics, quản trị cảng biển, công nghệ sinh học, kinh tế biển, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, công nghệ môi trường, quản trị du lịch và tài chính xanh. Đồng thời phải hình thành cơ chế để thu hút người giỏi đến Quảng Ninh, giữ người giỏi ở lại Quảng Ninh và tạo điều kiện để người Quảng Ninh trở thành những người giỏi trong chính quê hương mình.
Đào tạo cũng phải thay đổi. Không thể đào tạo nhân lực theo những ngành nghề của ngày hôm qua cho những công việc của ngày mai.
Doanh nghiệp phải tham gia sâu vào quá trình đào tạo; cơ sở giáo dục phải gắn với nhu cầu thị trường; các viện, trường và trung tâm nghiên cứu phải liên kết với doanh nghiệp để hình thành chuỗi đào tạo – nghiên cứu – thử nghiệm – thương mại hóa.
Đặc biệt, cần có chính sách riêng để phát triển đội ngũ cán bộ có tư duy quản trị đô thị, kinh tế, công nghệ và hội nhập quốc tế.
Ba nền tảng phải được vận hành như một hệ thống
![]() |
| Đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật, công nghệ cao phải gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và những ngành kinh tế mới, tạo nền tảng nâng cao năng suất lao động trong chu kỳ phát triển mới. Ảnh: Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh. |
Thể chế, hạ tầng và nhân lực không phải ba chương trình độc lập.
Một chính quyền số nhưng hạ tầng số yếu sẽ không thể vận hành hiệu quả. Một hệ thống giao thông hiện đại nhưng thiếu logistics và nhân lực chất lượng cao sẽ khó tạo giá trị gia tăng. Một chính sách thu hút công nghệ cao nhưng không có nguồn nhân lực tương ứng sẽ khó giữ được nhà đầu tư.
Vì vậy, Quảng Ninh cần chuyển từ tư duy “làm từng dự án” sang “kiến tạo hệ sinh thái phát triển”. Mỗi dự án hạ tầng lớn phải trả lời được câu hỏi: tạo ra ngành kinh tế nào? Mỗi khu công nghiệp phải trả lời: tạo được chuỗi giá trị nào? Mỗi chính sách thu hút đầu tư phải trả lời: chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực ra sao? Mỗi chương trình đào tạo phải trả lời: phục vụ ngành kinh tế nào? Mỗi quyết định quy hoạch phải trả lời: tác động thế nào đến môi trường, sinh thái và chất lượng sống của người dân?
Khi các câu hỏi ấy được đặt ra đồng thời, Quảng Ninh sẽ từng bước chuyển từ phát triển theo dự án sang phát triển theo hệ sinh thái.
Tạo nền móng cho một thành phố có năng lực cạnh tranh quốc tế
Trong chu kỳ phát triển mới, Quảng Ninh cần hướng tới một chuẩn mực cao hơn. Không chỉ là địa phương có hạ tầng tốt, mà phải là nơi chi phí giao dịch thấp. Không chỉ có nhiều khu công nghiệp, mà phải có chuỗi cung ứng hoàn chỉnh. Không chỉ có nguồn nhân lực đông, mà phải có nhân lực chất lượng cao. Không chỉ có nhiều dữ liệu, mà phải có năng lực biến dữ liệu thành giá trị. Không chỉ thu hút đầu tư, mà phải tạo ra năng lực nội sinh cho nền kinh tế.
Đó cũng là cách cụ thể hóa tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW, các định hướng của Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh và mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đã xác định.
Thành phố Quảng Ninh tương lai cần được xây dựng trên một nền tảng trong đó thể chế là lợi thế, hạ tầng là động lực, nhân lực là nguồn lực quyết định và khoa học – công nghệ là phương thức nâng năng suất. Khi ba nền tảng ấy được đặt trên cùng một chiến lược, những lợi thế về biển, rừng, di sản, cửa khẩu, cảng biển và vị trí địa kinh tế của Quảng Ninh mới có thể được chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh thực sự.
Và đó sẽ là nền móng quan trọng để Quảng Ninh bước sang giai đoạn phát triển mới: không chỉ tăng trưởng nhanh hơn, mà tăng trưởng sâu hơn, xanh hơn, thông minh hơn và bền vững hơn./.
Tin mới
Tin bài khác
Quản lý mã số vùng trồng: Từ cải cách thủ tục đến nâng cao năng lực cơ sở
Khuyến nông Lâm Đồng chuyển từ hỗ trợ sản xuất sang kiến tạo giá trị
Đà Nẵng mở rộng không gian đô thị: Nối những mạch sống, dệt mảng xanh bền vững
Nghề nón trăm năm ở Vĩnh Thịnh: Giữ nghề để có thêm thu nhập
Nghề đan quạt nan – Nét đẹp nghề thủ công truyền thống ở thôn Chiền (Hà Nội)
Về Quảng Trị, ghé ngôi nhà nơi cây cảnh và cổ vật kể chuyện thời gian
Lê Sinh - Người khai mở thú chơi đá cảnh ở Quảng Trị
Giữ tiếng Then, nghề xưa giữa dòng chảy du lịch cộng đồng Hữu Liên
Về làng Vân say men nồng hương rượu nếp
Người phụ nữ U70 giữ lửa đam mê duối đá ở Phú Thọ
Biến nhà rông thành sản phẩm lưu niệm, nghệ nhân 75 tuổi giữ nghề cha ông
Hơn 300 năm, nghề làm nón ngựa Phú Gia vẫn được người đàn ông 80 tuổi gìn giữ
Lê Duy Hùng - người kể chuyện làng quê Bắc Bộ bằng những tiểu cảnh
Hội Sinh vật cảnh Việt Nam được vinh danh tại Đại hội IX Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Ota, Đấu Nam, Pak Khlong Talat: Ba sắc thái của chợ hoa châu Á
"Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” cho một chu kỳ phát triển mới
Hơn 300 gian hàng sản phẩm CNNT miền Trung - Tây Nguyên tham gia Hội chợ tại Hà Tĩnh
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi 10 luật về nông nghiệp, môi trường
Phát triển sen Việt: Cần một hệ sinh thái liên kết
Đàn cừu “kéo” khách về trang trại, mở hướng làm du lịch từ nông nghiệp
Chăn vịt ở Phong Nha, trải nghiệm độc - lạ khiến du khách thích thú
“Cú liều” với nho sữa giúp người đàn ông Hà Nội đổi đời
Nữ nông dân Hà Nội bỏ nghề "hái ra tiền", về quê trồng rau má bằng công nghệ cao
Dấu xưa thú chơi cây cảnh trong cung đình triều Nguyễn
119 năm ngày mất Đào Tấn – Người đưa nghệ thuật Tuồng lên đỉnh cao
Đặc sản chợ đêm Cửa Lò bán theo mớ, hút khách trải nghiệm giữa lòng phố biển
Ninh Bình vào mùa hoa súng, cảnh sắc đẹp tựa tranh vẽ
Thái Nguyên: Điểm đến du lịch nông thôn tiêu biểu, nơi hội tụ sinh thái, nông nghiệp và trải nghiệm
Hội Sinh vật cảnh và Làm vườn Quảng Ninh sẵn sàng cho Triển lãm, dự thi Bonsai nghệ thuật năm 2026
Đặc sản ba miền hội tụ tại chợ lớn nhất Hà Tĩnh
Về Quảng Trị, ghé ngôi nhà nơi cây cảnh và cổ vật kể chuyện thời gian
Một năm nhìn lại: Dấu ấn CLB Sinh vật cảnh Thường Tín




