Biến di sản thành động lực tăng trưởng: Quảng Ninh kiến tạo nền kinh tế văn hóa trong kỷ nguyên mới
Quảng Ninh có một loại tài nguyên đặc biệt không thể tái tạo: di sản. Nhưng trong chu kỳ phát triển mới, di sản không thể chỉ được nhìn nhận như những địa danh để tham quan hay những giá trị cần bảo tồn. Với cách tiếp cận “di sản là lõi, công nghiệp văn hóa là công cụ chuyển hóa, du lịch là kênh lan tỏa”, Quảng Ninh đang đứng trước cơ hội hình thành một nền kinh tế di sản có giá trị gia tăng cao, tạo ra động lực tăng trưởng mới mà không đánh đổi những giá trị làm nên bản sắc của vùng đất.
![]() |
| Văn hóa trở thành không gian kinh tế. Ảnh: CTTĐT |
Di sản không chỉ để giữ gìn
Trong nhiều thập niên, Vịnh Hạ Long là biểu tượng du lịch của Quảng Ninh. Cùng với đó là Yên Tử, Vịnh Bái Tử Long, hệ thống di tích lịch sử, văn hóa, lễ hội, làng nghề, nghệ thuật truyền thống và đời sống văn hóa của các cộng đồng cư dân vùng biển, vùng núi, biên giới.
Những giá trị ấy đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt của Quảng Ninh.
Nhưng trong nền kinh tế hiện đại, giá trị của di sản không chỉ nằm ở số lượt người đến tham quan.
Một di sản có thể tạo ra cả một hệ sinh thái kinh tế phía sau nó
Đó có thể là dịch vụ lưu trú, ẩm thực, vận tải, giải trí, biểu diễn nghệ thuật, thiết kế, thời trang, điện ảnh, sản phẩm lưu niệm, xuất bản, truyền thông, công nghệ số, giáo dục, nghiên cứu và các sản phẩm sáng tạo.
Nói cách khác, từ một giá trị văn hóa có thể hình thành một chuỗi giá trị kinh tế. Đây chính là tư duy mà Quảng Ninh cần chuyển mạnh trong giai đoạn mới.
Từ “điểm đến” sang “hệ sinh thái di sản”
Năm 2025, Quảng Ninh đón 21,28 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt 4,5 triệu lượt; tổng thu du lịch khoảng 57.000 tỷ đồng. Đáng chú ý, doanh thu tăng hơn 22% trong khi lượng khách tăng khoảng 12%, cho thấy xu hướng nâng cao giá trị chi tiêu và chất lượng thị trường.
Những con số ấy đặt ra một vấn đề mới.
Nếu chỉ tiếp tục tăng số lượng khách, sức ép lên hạ tầng, môi trường và di sản cũng sẽ tăng theo. Quảng Ninh cần chuyển từ bài toán “đón bao nhiêu khách” sang “mỗi du khách tạo ra bao nhiêu giá trị”.
Một du khách đến Vịnh Hạ Long không nên chỉ mua một chuyến tham quan. Họ có thể trải nghiệm nghệ thuật, thưởng thức ẩm thực địa phương, tìm hiểu văn hóa biển, tham gia các hoạt động ban đêm, mua sản phẩm thiết kế từ chất liệu văn hóa Quảng Ninh, khám phá Yên Tử, trải nghiệm cộng đồng tại các vùng miền núi và lưu trú dài ngày.
Khi đó, một tài nguyên di sản có thể tạo ra giá trị cho hàng chục ngành kinh tế khác nhau. Đó chính là kinh tế di sản.
Một bước đi đã được đặt ra bằng chính sách
Điều đáng chú ý là định hướng này không còn chỉ nằm ở ý tưởng. Ngày 13/5/2026, UBND tỉnh Quảng Ninh ban hành Quyết định số 1625/QĐ-UBND phê duyệt đề cương và dự toán xây dựng Đề án “Phát triển kinh tế di sản, sản phẩm du lịch đêm và công nghiệp văn hóa tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
Đến tháng 8/2026, Đề án đã được tổ chức hội thảo tư vấn, phản biện với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học và các cơ quan liên quan. Định hướng được đặt ra khá rõ: di sản là lõi; công nghiệp văn hóa là công cụ chuyển hóa; du lịch là kênh lan tỏa; kinh tế ban đêm là không gian mở rộng tiêu dùng và gia tăng trải nghiệm.
Đây là một chuyển biến quan trọng trong tư duy phát triển. Bởi nếu chỉ coi di sản là đối tượng bảo tồn, nguồn lực phát triển sẽ bị giới hạn. Nhưng nếu coi di sản là vốn văn hóa, đồng thời đặt ra nguyên tắc khai thác trong giới hạn bảo tồn, di sản có thể trở thành một nguồn lực kinh tế lâu dài.
Kinh tế đêm: kéo dài thời gian tạo giá trị
Một trong những khoảng trống lớn của du lịch Quảng Ninh là thời gian tiêu dùng. Một điểm đến đẹp nhưng phần lớn dịch vụ kết thúc sớm sẽ khó tạo ra giá trị tương xứng với lượng khách. Vì vậy, phát triển kinh tế đêm không đơn thuần là mở thêm hàng quán sau 22 giờ. Đó phải là một hệ sinh thái kinh tế đêm có quy hoạch, gồm ẩm thực, mua sắm, biểu diễn nghệ thuật, giải trí, trải nghiệm văn hóa, sự kiện, thể thao và các dịch vụ cao cấp.
Theo định hướng đang được Quảng Ninh nghiên cứu, các tổ hợp kinh tế đêm cần được tổ chức có chức năng rõ ràng, kết nối thuận lợi nhưng hạn chế tác động đến khu dân cư, đồng thời bảo đảm yêu cầu về môi trường, an ninh và chất lượng dịch vụ.
Nếu làm tốt, kinh tế đêm sẽ không chỉ tạo thêm doanh thu. Nó còn tạo thêm việc làm, kéo dài thời gian lưu trú, tăng mức chi tiêu và làm cho các đô thị du lịch có sức sống liên tục. Một thành phố du lịch hiện đại không nên “ngủ” khi du khách vẫn còn nhu cầu trải nghiệm.
![]() |
| Khai hội Yên Tử -Di sản sống trong cộng đồng. Ảnh: CTTĐT |
Công nghiệp văn hóa – phần giá trị còn bỏ ngỏ
Quảng Ninh có nhiều tài nguyên để phát triển công nghiệp văn hóa nhưng phần lớn giá trị hiện vẫn nằm ở dạng tiềm năng. Đó là âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, nhiếp ảnh, thiết kế, thời trang, mỹ thuật, ẩm thực, xuất bản, truyền thông, quảng cáo, trò chơi điện tử và các sản phẩm sáng tạo dựa trên văn hóa bản địa.
Điều cần thay đổi là cách tiếp cận.
Không chỉ đưa văn hóa vào du lịch, mà phải đưa văn hóa vào sản xuất.
Một câu chuyện về Yên Tử có thể trở thành phim, chương trình biểu diễn, sản phẩm số, trò chơi, sách, quà tặng thiết kế và tour trải nghiệm. Một hình ảnh Vịnh Hạ Long có thể trở thành nguồn cảm hứng cho thiết kế, thời trang, mỹ thuật và sản phẩm lưu niệm cao cấp. Văn hóa biển, văn hóa Vùng mỏ, văn hóa các dân tộc ở miền núi có thể được nghiên cứu, số hóa và chuyển hóa thành những sản phẩm sáng tạo mới.
Đó là cách biến giá trị văn hóa thành giá trị kinh tế mà không làm nghèo đi văn hóa.
Cần một cơ chế để “di sản sinh ra giá trị, giá trị quay lại nuôi di sản”
Đây có lẽ là nguyên tắc quan trọng nhất của kinh tế di sản.
Không thể khai thác di sản theo cách lấy tài nguyên văn hóa để phục vụ tăng trưởng trước mắt, rồi để ngân sách nhà nước gánh toàn bộ chi phí bảo tồn. Cần hình thành một cơ chế trong đó một phần giá trị kinh tế tạo ra từ di sản được tái đầu tư trở lại cho bảo tồn.
Doanh thu từ các sản phẩm dịch vụ di sản phải góp phần nâng cao chất lượng bảo tồn. Các doanh nghiệp khai thác thương mại hình ảnh, thương hiệu, không gian văn hóa cần có trách nhiệm với tài nguyên mà họ sử dụng. Cộng đồng sở hữu và thực hành văn hóa phải được hưởng lợi. Khi người dân nhìn thấy di sản tạo ra việc làm, thu nhập và cơ hội kinh doanh, họ sẽ trở thành chủ thể bảo tồn, thay vì chỉ là đối tượng được tuyên truyền về bảo tồn.
Đó mới là mô hình bền vững.
Quảng Ninh cần những sản phẩm “không thể thay thế”
Trong cuộc cạnh tranh du lịch ngày càng gay gắt, một điểm đến không thể chỉ dựa vào cảnh đẹp. Điều quyết định là trải nghiệm có thể thay thế hay không. Quảng Ninh cần tập trung xây dựng một số sản phẩm mang tính biểu tượng, có khả năng nhận diện quốc tế. Vịnh Hạ Long – Bái Tử Long có thể trở thành không gian trải nghiệm kinh tế biển, văn hóa và nghệ thuật đẳng cấp. Yên Tử có thể phát triển thành trung tâm du lịch văn hóa – tâm linh – thiền – nghỉ dưỡng mang tầm quốc tế. Các đô thị Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Móng Cái có thể hình thành những không gian văn hóa, nghệ thuật và kinh tế đêm đặc trưng. Các xã miền núi có thể phát triển du lịch cộng đồng dựa trên văn hóa bản địa, ẩm thực, dược liệu, sinh thái rừng và nghề truyền thống. Đặc khu Vân Đồn, đặc khu Cô Tô có thể phát triển các sản phẩm biển đảo gắn với nghỉ dưỡng, thể thao, sinh thái và nghiên cứu biển.
Không phải nơi nào cũng cần một sản phẩm giống nhau. Mỗi không gian phải có một câu chuyện riêng và mỗi câu chuyện phải tạo ra giá trị riêng.
Từ di sản quốc gia đến thương hiệu quốc tế
Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 đã xác định định hướng xây dựng Quảng Ninh trở thành đô thị gắn với di sản mang tầm quốc tế, đồng thời là trung tâm kinh tế biển, đô thị xanh, hiện đại, thông minh và có bản sắc. Đây là tầm nhìn rất quan trọng. Bởi thương hiệu Quảng Ninh trong tương lai không thể chỉ là “Vịnh Hạ Long”. Phải từng bước hình thành thương hiệu tổng thể: Quảng Ninh – thành phố di sản, văn hóa, biển và sáng tạo.
Trong đó, Hạ Long là biểu tượng quốc tế; Yên Tử là chiều sâu văn hóa; biển đảo là không gian trải nghiệm; Vùng mỏ là ký ức công nghiệp; văn hóa các dân tộc là bản sắc; còn công nghiệp sáng tạo là phương thức đưa những giá trị ấy vào đời sống hiện đại.
Theo định hướng đang được xây dựng, đến năm 2030 Quảng Ninh phấn đấu đón 28 triệu lượt khách, doanh thu du lịch đạt khoảng 160.000–180.000 tỷ đồng, đóng góp 13–15% GRDP; tầm nhìn đến năm 2045 hướng tới trở thành trung tâm văn hóa, nghệ thuật và du lịch di sản hàng đầu khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Những mục tiêu đó cho thấy quy mô của tham vọng mới.
![]() |
| .Du khách quốc tế trên Vịnh Hạ Long |
Bảo tồn để phát triển – phát triển để bảo tồn
Quảng Ninh có thể trở thành một hình mẫu về giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển. Nhưng điều đó đòi hỏi một nguyên tắc rõ ràng: Không đánh đổi di sản lấy tăng trưởng ngắn hạn.
Mọi dự án phát triển trong không gian di sản phải được đánh giá về sức tải môi trường, cảnh quan, văn hóa và xã hội. Mọi sản phẩm thương mại hóa di sản phải bảo đảm tính xác thực. Mọi hoạt động du lịch phải hướng tới giảm áp lực lên tài nguyên. Và mọi nguồn lợi từ di sản cần được phân bổ hợp lý giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng.
Đây cũng là cách biến bảo tồn từ một nhiệm vụ “chi ngân sách” thành một chiến lược đầu tư vào vốn văn hóa của tương lai.
Một nền kinh tế được xây dựng từ bản sắc
Quảng Ninh đã có một thời kỳ phát triển dựa mạnh vào tài nguyên khoáng sản.
Chu kỳ mới cần tạo ra một loại “tài nguyên” khác: trí tuệ, văn hóa, sáng tạo và bản sắc.
Than là tài nguyên hữu hạn. Nhưng một câu chuyện văn hóa hay, một thương hiệu tốt, một tác phẩm nghệ thuật, một lễ hội đặc sắc, một trải nghiệm du lịch khác biệt có thể được tái tạo và gia tăng giá trị qua nhiều thế hệ. Đó là lý do kinh tế di sản có ý nghĩa vượt ra ngoài ngành du lịch. Nó là một phương thức chuyển hóa tài sản văn hóa thành năng lực cạnh tranh mềm của thành phố Quảng Ninh. Nếu làm được điều đó, di sản sẽ không đứng bên ngoài nền kinh tế.
Di sản sẽ đi vào trung tâm của nền kinh tế.
Và khi giá trị của di sản được chuyển hóa thành việc làm, thu nhập, sản phẩm, thương hiệu và niềm tự hào của cộng đồng; khi nguồn lực kinh tế quay trở lại phục vụ bảo tồn; khi công nghệ và sáng tạo mở ra những cách thức mới để thế giới tiếp cận văn hóa Quảng Ninh, thì đó cũng là lúc địa phương hình thành một mô hình phát triển rất riêng.
Một thành phố không chỉ giàu bởi những gì mình xây dựng, mà còn giàu bởi những gì mình biết gìn giữ và làm cho những giá trị ấy tiếp tục sinh sôi.
Đó có thể là một trong những lợi thế cạnh tranh bền vững nhất của Quảng Ninh trong kỷ nguyên mới./.
Tin bài khác
Chủ tịch Hội SVC Việt Nam phát động Cuộc thi Bonsai & Suiseki Việt Nam 2026 - Vòng loại khu vực miền Trung
Hội Sinh vật cảnh Việt Nam tham dự Triển lãm Bonsai Thế giới tại Malaysia
Làng phở Vân Cù – Nơi lưu giữ hồn phở Việt qua hơn một thế kỷ
Không gian sống bằng đá giữa rừng của ông Đặng Lê Nguyên Vũ
Nghề nón trăm năm ở Vĩnh Thịnh: Giữ nghề để có thêm thu nhập
Nghề đan quạt nan – Nét đẹp nghề thủ công truyền thống ở thôn Chiền (Hà Nội)
Về Quảng Trị, ghé ngôi nhà nơi cây cảnh và cổ vật kể chuyện thời gian
Lê Sinh - Người khai mở thú chơi đá cảnh ở Quảng Trị
Giữ tiếng Then, nghề xưa giữa dòng chảy du lịch cộng đồng Hữu Liên
Về làng Vân say men nồng hương rượu nếp
Người phụ nữ U70 giữ lửa đam mê duối đá ở Phú Thọ
Biến nhà rông thành sản phẩm lưu niệm, nghệ nhân 75 tuổi giữ nghề cha ông
Loại quả xưa chẳng ai để ý nay được chuộng, giá cao vẫn có người mua
Thể chế – hạ tầng – nhân lực: Ba nền tảng để Quảng Ninh bứt phá trong chu kỳ phát triển mới
3 loại cây cảnh vừa đẹp vừa ăn được, cực hợp trồng ở ban công
Đà Nẵng mở rộng không gian đô thị: Nối những mạch sống, dệt mảng xanh bền vững
Kỹ thuật xử lý chôm chôm ra hoa trái vụ, chủ động thời điểm thu hoạch
Theo phong thủy, đây là 4 loại cây nên tránh trồng trong nhà, gia chủ cần lưu ý
Không vốn, trai làng Huế nhặt mầm hoa bỏ đi rồi gây dựng vườn súng 7ha
Cục Hải quan hướng dẫn thủ tục xuất nhập khẩu cây cảnh, thú cưng và bò sát
Rơm rạ từng bị đốt bỏ nay thành nguồn thu, nông dân trồng nấm rồi tận dụng cả phế phẩm
Thanh nhãn Cà Mau: Vỏ dày, cơm vàng, giòn ngọt, giá đắt vẫn được săn tìm
Phát triển sen Việt: Cần một hệ sinh thái liên kết
Đàn cừu “kéo” khách về trang trại, mở hướng làm du lịch từ nông nghiệp
Chăn vịt ở Phong Nha, trải nghiệm độc - lạ khiến du khách thích thú
Dịp 2/9, thử 4 hành trình tàu hỏa kết nối những điểm đến nổi tiếng
Lễ hội Trung thu tỉnh Tuyên Quang: Từ sức sáng tạo cộng đồng đến thương hiệu du lịch bền vững
Dấu xưa thú chơi cây cảnh trong cung đình triều Nguyễn
119 năm ngày mất Đào Tấn – Người đưa nghệ thuật Tuồng lên đỉnh cao
Đặc sản chợ đêm Cửa Lò bán theo mớ, hút khách trải nghiệm giữa lòng phố biển
Việt Nam - Nơi hội tụ nghệ thuật Bonsai & Suiseki
Hội Sinh vật cảnh và Làm vườn Quảng Ninh sẵn sàng cho Triển lãm, dự thi Bonsai nghệ thuật năm 2026
Đặc sản ba miền hội tụ tại chợ lớn nhất Hà Tĩnh
Về Quảng Trị, ghé ngôi nhà nơi cây cảnh và cổ vật kể chuyện thời gian


